đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên. Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác z Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập, áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn. Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh. Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân.
Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới. Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy giáo. Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường.
Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ. Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho học sinh. z Để phát huy tính tích cực của người học đòi hỏi phải có sự phân hóa về trình độ, cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập. Cần tăng cường cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh. Các bài học được thiết kế thành một chuỗi nhiệm vụ phù hợp với khả năng nhận thức của từng đối tượng người học.
Như vậy, học tập cá thể đáp ứng được trình độ của người học, phù hợp với phong cách học của mỗi cá nhân. Qua đó người học rèn luyện ý thức tự lực, ý thức trách nhiệm với kết quả học tập của mình. Tuy vậy, lớp học là môi trường giao tiếp thầy- trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức. Thông qua thảo luận, tranh luận trong nhóm, ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ và chia sẻ.
Học sinh không chỉ có điều kiện học tập cùng nhau mà còn học tập lẫn nhau. Kiến thức của người học thu được là sự đóng góp của nhiều người. Đồng thời qua học tập hợp tác, các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết phục, kỹ năng lắng nghe tích cực, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ được rèn luyện và phát triển. Dạy học thông qua hợp tác nhóm tạo nên mối quan hệ tương tác giữa trò với trò, giữa thầy với trò, tạo nên sự bình đẳng trong quan hệ giữa các thành viên và tạo nên môi trường học tập an toàn.
Trong môi trường đó mỗi cá nhân được phép thể hiện tối đa khả năng nhận thức và kinh nghiệm của mình một cách tự tin và thoải mái bởi cảm giác an toàn. Học tập hợp tác theo nhóm còn phát triển ở học sinh kỹ năng tổ chức, kỹ năng điều khiển và lãnh đạo. Thông qua đó hình thành ở học sinh những phẩm chất của người lao động. Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy. z Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh. Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học. Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau.
Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh. Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế. Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học. Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình.
Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh. Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên. Các yếu tố thúc đẩy dạy học tích cực 1. Không khí học tập và các mối quan hệ trong lớp/nhóm Xây dựng môi trường học tập thân thiện, mang tính kích thích: như bố trí bàn ghế, trang trí trên tường, cách sắp xếp không gian lớp học, quan tâm tới sự thoải mái về tinh thần.
Hỗ trợ cá nhân một cách tích cực, tạo cơ hội để học sinh giao tiếp, thể hiện quan điểm, giá trị, mơ ước, chia sẻ kinh nghiệm,… và hợp tác trong các hoạt động học tập, tạo ra môi trường học tập thoải mái, không căng thẳng, không nặng nề, không phiền nhiễu. Cho phép các hoạt động giải trí nhẹ nhàng, truyện vui, hài hước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Sự phù hợp với mức độ phát triển của học sinh Để thúc đẩy quá trình học tập của học sinh, cần phải kể đến sự phù hợp với các mức độ phát triển của học sinh. Đầu tiên là sự phân hóa về nhịp độ học tập giữa các đối tượng học sinh khác nhau từ đó dẫn tới sự khác biệt về trình độ phát triển của học sinh.
Do vậy yêu cầu người giáo viên phải trình bày rõ ràng về những mong đợi của thầy đối với trò, đưa ra các yêu cầu rõ ràng, tránh mơ hồ, đa nghĩa. Đồng thời khuyến khích học sinh giúp đỡ lẫn nhau, từ đó giành thời gian đặt các câu hỏi yêu cầu học sinh động não và hỗ trợ cá nhân. Ngoài ra có thể quan sát học sinh học tập để tìm ra phong cách và sở thích học tập của từng học sinh, tạo điều kiện trao đổi với học sinh về nhiệm vụ học tập. Sự gần gũi với thực tế Nỗ lực gắn nội dung, nhiệm vụ với các mối quan tâm của học sinh và với thế giới thực tại xung quanh như gắn với các công việc trong gia đình hàng ngày.
Hướng dẫn học sinh tận dụng mọi cơ hội có thể để tiếp xúc với vật thực, tình huống thực, sử dụng các công cụ dạy học hấp dẫn (trình chiếu, video, tranh ảnh,.) để “đưa” học sinh lại gần đời sống thực tế. Đồng thời giao các nhiệm vụ vận dụng kiến thức, kỹ năng trong môn học có ý nghĩa với học sinh từ đó giúp z học sinh khai thác những đề tài vượt ra ngoài giới hạn của các môn học riêng rẽ, kích thích khả năng tư duy, tính tích cực, chủ động ở học sinh. Mức độ và sự đa dạng của hoạt động Hạn chế tối đa thời gian chết và thời gian chờ đợi, với các đối tượng học sinh khác nhau cần có những yêu cầu khác nhau có như vậy mới tăng cường sự tham gia tích cực, hoặc có thể tạo ra các thời điểm hoạt động và trải nghiệm tích cực, tích hợp các hoạt động học mà chơi (các trò chơi giáo dục) như tham gia hoạt động giải ô chữ theo lĩnh vực yêu thích. Thay đổi xen kẽ các hoạt động và nhiệm vụ học tập để có thể đảm bảo đủ thời gian thực hành.
Đảm bảo hỗ trợ đúng mức (học sinh hỗ trợ lẫn nhau và hỗ trợ từ giáo viên), giáo viên không làm hộ học sinh, chỉ hỗ trợ hướng dẫn đến một mức nào đó, yêu cầu học sinh tăng cường các trải nghiệm thành công có như vậy mới tạo ra hứng thú học tập cho học sinh. Phạm vi tự do sáng tạo Học sinh thường xuyên được lựa chọn hoạt động phù hợp với bản thân, học sinh lên kế hoạch đánh giá bài học, thực hiện nhiệm vụ và hoạt động. Khi trải nghiệm trong thực tế học sinh có quyền thay đổi kế hoạch cho phù hợp với mục tiêu đặt ra.