Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã thúc đẩy Việt Nam hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, quyền sở hữu công nghiệp được xem là tài sản mang lại lợi thế cạnh tranh then chốt cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, trước áp lực thương trường ngày càng gay gắt, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM) xâm phạm đối tượng sở hữu công nghiệp (SHCN) xuất hiện với mức độ tinh vi và phức tạp hơn. Mặc dù Quốc hội đã ban hành Luật Cạnh tranh năm 2018 và Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi (hợp nhất theo Văn bản hợp nhất số 11/VBHN-VPQH năm 2022), thực tiễn thi hành vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập do sự thiếu đồng bộ giữa hai hệ thống pháp luật, gây khó khăn cho việc phân định ranh giới giữa hành vi CTKLM và hành vi xâm phạm quyền SHCN.
Khóa luận xác định mục đích nghiên cứu là đi sâu làm rõ các vấn đề lý luận về xác định hành vi CTKLM, phân tích thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về chống CTKLM trong lĩnh vực SHCN tại Việt Nam, từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định gồm ba nội dung:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về xác định hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN và hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ này.
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về chống CTKLM trong lĩnh vực SHCN tại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận, thực tiễn, quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN, cùng thực trạng cơ chế thi hành pháp luật liên quan. Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian được giới hạn từ thời điểm Luật Cạnh tranh năm 2004 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được ban hành cho đến nay, tập trung xem xét các chế định thuộc pháp luật sở hữu trí tuệ, pháp luật cạnh tranh, pháp luật hành chính, dân sự và hình sự tại Việt Nam.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể được tác giả kết hợp bao gồm: phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh luật học, phương pháp thống kê và đánh giá thực tiễn áp dụng án lệ.
Khung lý thuyết và văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng bao gồm:
- Điều ước quốc tế và pháp luật nước ngoài: Điều 10bis Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp năm 1883 (sửa đổi tại Stockholm năm 1967); Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) năm 1994; quy định chống CTKLM trong Bộ luật Dân sự Pháp (Điều 1382, 1383), Bộ luật Dân sự Ý (Điều 2598, 2601), Luật Chống CTKLM của Đức năm 1909, Luật Cạnh tranh Bulgaria năm 1991.
- Hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam: Luật Cạnh tranh năm 2004; Luật Cạnh tranh năm 2018 (Khoản 6 Điều 3, Điều 45); Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung qua Văn bản hợp nhất số 11/VBHN-VPQH năm 2022, đặc biệt là Điều 127, Điều 129, Điều 130, Điều 198, Điều 202); Bộ luật Hình sự năm 2015 (Điều 217, Điều 226); Luật Viễn thông năm 2023; Nghị định số 54/2000/NĐ-CP; Nghị định số 75/2019/NĐ-CP; Nghị định số 99/2013/NĐ-CP; Nghị định số 126/2021/NĐ-CP và Văn bản hợp nhất số 01/VBHN-BKHCN năm 2022 của Bộ Khoa học và Công nghệ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHCN.
- Tài liệu học thuật kế thừa: Các công trình nghiên cứu của Burton Ong (2006), Josef Drexl và cộng sự (2012), Rodyk & Davidson LLP (2012), World Bank (2015), ThS. Nguyễn Như Quỳnh (2009), Nguyễn Thị Thanh Mai (2005), Trương Thị Thanh Tuyết (2011), Trần Thị Hồng Thúy (2012), Nguyễn Thị Kim Liên (2013), PGS.TS. Nguyễn Thị Vân Anh (2020), PGS.TS. Vũ Thị Hải Yến (2018), TS. Nguyễn Thanh Tú (2006), Đặng Vũ Huân (2004), GS.TS. Nguyễn Như Phát và Bùi Nguyên Khánh (2001).
Nguồn dữ liệu thực tế phục vụ phân tích bao gồm:
- Bản án số 28/2019/KDTM-ST ngày 24/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về tranh chấp tên miền.
- Quyết định giám đốc thẩm số 29/2009/DS-GDT-HĐTP ngày 09/9/2009 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về yêu cầu bồi thường thiệt hại liên quan đến nhãn hiệu và bao bì sản phẩm.
- Báo cáo thống kê năm 2023 của Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ về kiểm tra, xử lý vi phạm sở hữu trí tuệ và hàng giả.
- Dữ liệu tố tụng cạnh tranh giai đoạn 2017–2021 do Bộ Công Thương công bố.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hành vi cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm căn bản và xây dựng tiêu chí phân biệt bản chất pháp lý của hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN:
- Khái niệm và đặc điểm hành vi CTKLM: Hành vi CTKLM theo Khoản 6 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2018 là hành vi của doanh nghiệp trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác. Bốn đặc điểm cấu thành gồm:
- Chủ thể thực hiện: Là các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường liên quan.
- Cách thức thực hiện: Vi phạm các nguyên tắc thiện chí, trung thực và tập quán thương mại đã được thừa nhận.
- Mục đích: Triệt tiêu lợi thế của đối thủ, thu lợi bất chính và gia tăng thị phần sai trái.
- Hậu quả: Gây thiệt hại hoặc tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại về vật chất, uy tín cho đối thủ cạnh tranh và trật tự thị trường.
- Nhận diện các dạng hành vi CTKLM theo chuẩn mực quốc tế (Điều 10bis Công ước Paris):
- Hành vi gây nhầm lẫn về chủ thể, cơ sở hoặc hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh.
- Hành vi lừa dối công chúng về bản chất, quy trình sản xuất, đặc tính, số lượng hàng hóa.
- Hành vi xâm phạm bí mật thương mại (bao gồm bí mật công nghiệp và bí quyết thương mại).
- Hành vi thu lợi không chính đáng từ thành quả kinh doanh của người khác (lạm dụng danh tiếng, sao chép kiểu dáng, hành vi "ký sinh" thương mại).
- Phân biệt hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN và hành vi xâm phạm quyền SHCN:
| Tiêu chí phân biệt |
Hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN |
Hành vi xâm phạm quyền SHCN |
| Phạm vi đối tượng hướng tới |
Rộng hơn; bao gồm cả các chỉ dẫn thương mại chưa được đăng ký bảo hộ riêng biệt (bao bì, khẩu hiệu, biểu tượng kinh doanh, tên miền). |
Hẹp hơn; bắt buộc phải là đối tượng SHCN đang được Nhà nước cấp văn bằng bảo hộ hợp pháp hoặc được công nhận bảo hộ (nhãn hiệu nổi tiếng). |
| Chủ thể thực hiện |
Bắt buộc phải là đối thủ cạnh tranh hoạt động trên cùng thị trường liên quan (cùng phân khúc sản phẩm, dịch vụ và khu vực địa lý tương đồng). |
Bất kỳ cá nhân, tổ chức nào thực hiện hành vi vi phạm độc quyền của chủ sở hữu mà không được phép, không đòi hỏi quan hệ cạnh tranh. |
| Yếu tố lỗi |
Yếu tố cấu thành bắt buộc là lỗi cố ý (chủ thể biết rõ hành vi nhằm tạo lợi thế cạnh tranh không chính đáng). |
Không bắt buộc xét đến yếu tố lỗi; khi quyền đã được đăng ký, mọi hành vi vi phạm thuộc độc quyền đều bị suy đoán là xâm phạm (kể cả lỗi vô ý). |
- Cơ chế điều chỉnh pháp luật: Pháp luật cạnh tranh tiếp cận điều chỉnh từ "mặt trái" (chỉ khoanh vùng các hành vi bị cấm để bảo đảm quyền tự do kinh doanh) và mang tính "không triệt để" (kết hợp giữa quy tắc cấm tuyệt đối per se rule và quy tắc hợp lý rule of reason). Chế tài xử lý bao gồm biện pháp dân sự (bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng), biện pháp hành chính (cảnh cáo, phạt tiền, đình chỉ hoạt động, tịch thu tang vật) và biện pháp hình sự (Điều 217 và Điều 226 Bộ luật Hình sự 2015).
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Chương 2 phân tích chi tiết bốn nhóm hành vi CTKLM theo quy định hiện hành và đánh giá dữ liệu áp dụng thực tế:
- Bốn dạng hành vi CTKLM quy định tại Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ 2022:
- Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn: Nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng, bao bì gây nhầm lẫn về chủ thể, nguồn gốc, tính năng sản phẩm (Điểm a, b Khoản 1 Điều 130).
- Đại diện, đại lý sử dụng nhãn hiệu nước ngoài trái phép: Người đại diện/đại lý sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại quốc gia thành viên điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia mà không được chủ sở hữu đồng ý và không có lý do chính đáng (Điểm c Khoản 1 Điều 130).
- Chiếm hữu, sử dụng tên miền bất hợp pháp: Đăng ký, chiếm giữ tên miền quốc gia ".vn" trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý có uy tín nhằm bán lại kiếm lời hoặc cản trở chủ thể quyền (quy định chi tiết tại Điểm d Khoản 1 Điều 130 và Điểm a Khoản 16 Điều 14 Văn bản hợp nhất 01/VBHN-BKHCN năm 2022).
- Xâm phạm bí mật kinh doanh: Tiếp cận, thu thập trái phép bằng cách chống lại biện pháp bảo mật; tiết lộ hoặc sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh không được phép (Khoản 1 Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018 và Điều 127 Luật Sở hữu trí tuệ 2022).
- Thực tiễn áp dụng qua các vụ việc điển hình:
- Vụ tranh chấp tên miền OSR (Bản án số 28/2019/KDTM-ST): Hãng OSR GMBH (Đức) khởi kiện ông Nguyễn Đức T do đăng ký, sử dụng các tên miền
<osr.vn> và <osr.com.vn> để kinh doanh sản phẩm tương tự. Tòa án nhân dân TP Hà Nội đã căn cứ Điều 130 và Điều 202 Luật SHTT, tuyên thu hồi tên miền tranh chấp, buộc bị đơn bồi thường thiệt hại và xin lỗi công khai trên Báo điện tử VnExpress, Dân trí và Báo Tuổi trẻ trong 3 kỳ liên tiếp.
- Vụ án nhãn hiệu thuốc tránh thai POSTINOR vs POSINIGHT (Quyết định giám đốc thẩm số 29/2009/DS-GDT-HĐTP): Công ty GERNAI khởi kiện Công ty Thành Vinh và Công ty Bình Đạt vì sản xuất thuốc POSINIGHT có bao bì, vỉ đóng gói tương tự thuốc POSTINOR. Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao đã tuyên hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm để xét xử lại do chứng cứ điều tra thị trường độc lập của nguyên đơn chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại Việt Nam xác nhận hợp pháp.
- Số liệu thống kê thực tế:
- Theo báo cáo năm 2023 của Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ: Lực lượng quản lý thị trường toàn quốc đã kiểm tra 71.928 vụ, xử lý 52.351 vụ vi phạm; thu nộp ngân sách trên 501 tỷ đồng. Trong đó có 246 vụ vi phạm liên quan đến hàng giả, xâm phạm quyền SHTT, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ; tổng mức phạt vi phạm hành chính đạt 92,5 tỷ đồng; tổng trị giá hàng hóa vi phạm bị xử lý trên 118,3 tỷ đồng.
- Theo số liệu của Bộ Công Thương giai đoạn 2017–2021: Cơ quan quản lý cạnh tranh đã tiến hành điều tra theo thủ tục tố tụng cạnh tranh đối với 18 vụ việc có dấu hiệu CTKLM theo Luật Cạnh tranh 2004, xử phạt tổng số tiền 1.621.000.000 đồng, chủ yếu tập trung vào hành vi quảng cáo so sánh, gièm pha doanh nghiệp, chỉ dẫn gây nhầm lẫn và bán hàng đa cấp bất chính.
- Hạn chế, bất cập chỉ ra:
- Sự không thống nhất giữa 7 dạng hành vi CTKLM tại Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018 và 4 dạng hành vi tại Điều 130 Luật SHTT 2022.
- Tình trạng chồng chéo thẩm quyền xử lý giữa Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia với các cơ quan thanh tra chuyên ngành (Thanh tra KH&CN, Thanh tra TT&TT, Quản lý thị trường, UBND các cấp theo Điều 15 VBHN 01/VBHN-BKHCN).
- Luật SHTT chưa quy định rõ tiêu chí "lý do chính đáng" đối với hành vi sử dụng nhãn hiệu của đại lý/người đại diện.
- Tâm lý e ngại khiếu nại, khởi kiện của doanh nghiệp do thời gian tố tụng kéo dài và gánh nặng chứng minh thiệt hại.
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
Tác giả đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống quy phạm và tổ chức thực thi:
- Định hướng hoàn thiện:
- Thống nhất các quy định về hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN giữa Luật SHTT và Luật Cạnh tranh.
- Thống nhất nguyên tắc áp dụng pháp luật để tránh tình trạng cùng một hành vi bị điều chỉnh và xử lý chồng chéo bởi nhiều đạo luật.
- Ban hành các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành chi tiết chế định chống CTKLM trong Luật Cạnh tranh 2018.
- Bổ sung các dạng hành vi CTKLM mới liên quan đến các đối tượng SHCN khác trên môi trường số và thương mại điện tử.
- Bổ sung quy định cho phép chủ thể quyền tự áp dụng các biện pháp ngăn chặn và xử lý kịp thời hành vi vi phạm.
- Giải pháp cụ thể:
- Sửa đổi, chuẩn hóa các điều khoản giải thích khái niệm (làm rõ nội hàm "lý do chính đáng", "tập quán thương mại trung thực", "chỉ dẫn thương mại khác").
- Hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành, phân định rõ ranh giới thẩm quyền giữa Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia và các cơ quan thanh tra hành chính.
- Nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật và nâng cao nhận thức pháp lý của cộng đồng doanh nghiệp trong việc tự bảo vệ tài sản trí tuệ.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu và đóng góp cụ thể sau:
- Kết quả nghiên cứu thực chứng: Hệ thống hóa và trích xuất đầy đủ các số liệu xử lý thực tế tại Việt Nam, bao gồm 52.351 vụ vi phạm bị xử lý năm 2023 bởi lực lượng quản lý thị trường (thu nộp ngân sách trên 501 tỷ đồng, phạt hành chính 92,5 tỷ đồng đối với vi phạm SHTT và hàng giả), và 18 vụ việc tố tụng cạnh tranh giai đoạn 2017–2021 với tổng tiền phạt 1,621 tỷ đồng từ Bộ Công Thương.
- Giải pháp lập pháp và thực thi: Đưa ra hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm giải quyết xung đột quy định giữa Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018 và Điều 130 Luật SHTT 2022; xác lập cơ chế phân định thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo Văn bản hợp nhất số 01/VBHN-BKHCN năm 2022 và vai trò của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia.
- Đóng góp khoa học và thực tiễn:
- Về khoa học pháp lý: Làm rõ cơ sở lý luận, tiêu chí phân biệt giữa hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHCN và hành vi xâm phạm quyền SHCN dựa trên phạm vi đối tượng, chủ thể thị trường và yếu tố lỗi.
- Về thực tiễn: Đánh giá toàn diện các rào cản tố tụng dân sự và hành chính thông qua các án lệ thực tế (vụ tên miền OSR và vụ POSTINOR), cung cấp luận cứ cho việc sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn thi hành luật trong tương lai.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận ghi nhận các giới hạn nghiên cứu dựa trên phạm vi tài liệu và bối cảnh thực tế:
- Hạn chế: Nghiên cứu giới hạn dữ liệu trong mốc thời gian từ khi ban hành Luật Cạnh tranh 2004 và Luật SHTT 2005 đến nay. Dữ liệu xử lý vi phạm tố tụng cạnh tranh trong giai đoạn 2019–2021 còn hạn chế do quá trình kiện toàn và thành lập Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia gặp nhiều độ trễ về mặt tổ chức bộ máy.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi và đánh giá hiệu quả thực thi thực tế của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia sau khi đi vào vận hành ổn định; mở rộng nghiên cứu đối với các hành vi CTKLM có yếu tố nước ngoài (doanh nghiệp không hiện diện tại Việt Nam nhưng gây tác động cạnh tranh trong nước) và các hành vi xâm phạm SHCN trên các nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới.
Giá trị tham khảo
Tài liệu có giá trị tham khảo chuyên sâu đối với:
- Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Luật: Đặc biệt thuộc các chuyên ngành Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Kinh tế và Luật Thương mại quốc tế; cung cấp hệ thống lý luận chặt chẽ và nguồn tài liệu tham khảo phong phú.
- Luật sư và chuyên viên pháp chế doanh nghiệp: Hữu ích trong việc xây dựng chiến lược bảo hộ nhãn hiệu, bao bì, giải quyết tranh chấp tên miền quốc gia và thu thập chứng cứ chứng minh thiệt hại trong các vụ kiện CTKLM.
- Cơ quan thực thi pháp luật: Cung cấp góc nhìn đối sánh quy phạm giữa Luật Cạnh tranh và Luật SHTT, phục vụ công tác xét xử tại Tòa án và xử phạt vi phạm hành chính của Thanh tra Khoa học và Công nghệ, cơ quan Quản lý thị trường.
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Bảng đối sánh bản chất pháp lý giữa hành vi CTKLM và xâm phạm quyền SHCN (Chương 1); Phân tích thực tiễn án lệ tranh chấp tên miền OSR và nhãn hiệu POSTINOR (Chương 2).
Câu hỏi thường gặp
1. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp khác hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ở những điểm căn bản nào?
Hành vi CTKLM hướng tới đối tượng rộng hơn (bao gồm cả các chỉ dẫn thương mại chưa được cấp văn bằng bảo hộ riêng như bao bì, khẩu hiệu, biểu tượng), chỉ xảy ra giữa các chủ thể có quan hệ cạnh tranh trên cùng thị trường liên quan và bắt buộc phải có yếu tố lỗi cố ý. Ngược lại, hành vi xâm phạm quyền SHCN chỉ phát sinh khi có quyền SHCN đã được Nhà nước bảo hộ hợp pháp bị xâm phạm, áp dụng với mọi chủ thể không phân biệt quan hệ cạnh tranh và không bắt buộc chứng minh yếu tố lỗi.
2. Tòa án nhân dân TP Hà Nội đã ra phán quyết như thế nào trong vụ tranh chấp tên miền của hãng OSR GMBH (Bản án số 28/2019/KDTM-ST)?
Hội đồng xét xử xác định hành vi của bị đơn (ông Nguyễn Đức T) khi đăng ký và sử dụng các tên miền <osr.vn> và <osr.com.vn> để kinh doanh sản phẩm tương tự mà không được phép của hãng OSR GMBH là hành vi CTKLM theo Khoản 1 Điều 130 Luật SHTT. Tòa án đã tuyên thu hồi các tên miền tranh chấp, buộc bị đơn bồi thường thiệt hại và công khai xin lỗi hãng OSR trên Báo điện tử VnExpress, Báo Dân trí và Báo Tuổi trẻ trong 3 kỳ liên tiếp.
3. Tại sao Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm trong vụ án nhãn hiệu POSTINOR vs POSINIGHT (Quyết định số 29/2009/DS-GDT-HĐTP)?
Tòa án nhân dân Tối cao hủy các bản án trước đó vì chứng cứ do nguyên đơn (Công ty GERNAI) cung cấp để chứng minh thiệt hại và hành vi CTKLM chỉ là kết quả điều tra thị trường độc lập trong năm 2002–2003, chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam kiểm chứng và công nhận tính pháp lý, do đó không đủ căn cứ vững chắc để chấp nhận yêu cầu bồi thường.
4. Dữ liệu xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp năm 2023 trong khóa luận ghi nhận những kết quả gì?
Theo báo cáo của Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ, năm 2023 lực lượng quản lý thị trường đã kiểm tra 71.928 vụ, xử lý 52.351 vụ vi phạm, nộp ngân sách trên 501 tỷ đồng. Riêng nhóm vi phạm về hàng giả, xâm phạm quyền SHTT và hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ có 246 vụ, xử phạt vi phạm hành chính 92,5 tỷ đồng với trị giá hàng hóa vi phạm trên 118,3 tỷ đồng.
5. Điểm không thống nhất cốt lõi giữa Luật Cạnh tranh 2018 và Luật Sở hữu trí tuệ 2022 trong việc nhận diện hành vi CTKLM là gì?
Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018 liệt kê 7 dạng hành vi CTKLM nói chung, trong khi Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ 2022 chỉ khu biệt 4 dạng hành vi CTKLM liên quan đến sở hữu công nghiệp. Sự khác biệt về cách liệt kê và tiếp cận này tạo ra xung đột trong việc lựa chọn nguyên tắc áp dụng luật và phân định thẩm quyền xử lý giữa Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia và các cơ quan thanh tra chuyên ngành.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Hoàng Phương Linh đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu nghiên cứu lý luận và đánh giá thực tiễn pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ các tiêu chí pháp lý phân biệt hành vi CTKLM với hành vi xâm phạm quyền SHCN, đồng thời phản ánh chân thực các bất cập quy định và khó khăn trong cơ chế thực thi thông qua các số liệu thống kê và án lệ thực tế. Các giải pháp và định hướng hoàn thiện được đề xuất mang tính đồng bộ, có giá trị đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện thể chế pháp luật kinh tế và nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.