CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng của Ngân hàng Thương Mại 1. Khái niệm Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện ở khả năng khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Hiện nay có rất nhiều khái niệm về rủi ro tín dụng, căn cứ vào khoản 01 Điều 02 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng (Ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất, có quy mô lớn nhất của Ngân hàng thương mại. Khi quyết định thực hiện một khoản tài trợ ngân hàng xem xét phân tích nhằm đảm bảo độ an toàn cao nhất cho khoản vay. Tuy nhiên khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng chịu sự tác động của nhiều yếu tố, có những yếu tố bất ngờ không thể dự đoán trước được chính xác. Mặt khác việc phân tích tín dụng còn phụ thuộc vào khả năng hay các yếu tố chủ quan của cán bộ ngân hàng.
Vì vậy, có thể nói rằng rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi và tồn tại một cách khách quan gắn liền với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nó chỉ có thể đề phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ. Rủi ro tín dụng chính là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi ngân hàng cấp tín dụng. Phân loại rủi ro tín dụng Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau: 6 - Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.
+ Rủi ro lựa chọn: Là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. + Rủi ro bảo đảm: Phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thẻ bảo đảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ: Là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay , bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. - Rủi ro danh mục: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung: + Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế.
Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. + Rủi ro tập trung: Là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động, trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng Hiện nay có rất nhiều chỉ tiêu phản ảnh rủi ro tín dụng, tuy nhiên để có thể đánh giá được đúng mức độ rủi ro tín dụng của các Ngân hàng thương mại thường dựa trên một số chỉ tiêu sau: 7 Chỉ tiêu: Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ Tỷ lệ nợ quá hạn = x100 Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc, lãi không thu hồi được đầy đủ và đúng hạn như cam kết trong hợp đồng tín dụng nên đã bị chuyến sang nợ quá hạn. Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thể hiện chất lượng tín dụng ngân hàng càng kém và ngược lại tỷ lệ nợ quá hạn càng thấp chứng minh được chất lượng tín dụng ngân hàng.
Chỉ tiêu: Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ Tỷ lệ nợ xấu = x 100 Theo quy định hiện hành và phù hợp với thông lệ quốc tế, nợ xấu ở đây là những khoản nợ quá hạn 90 ngày mà không đòi được và không được tái cơ cấu. Nợ xấu phản ánh đúng nhất chất lượng tín dụng của các TCTD. Chỉ tiêu này càng nhỏ thì mức độ rủi ro tín dụng càng thấp. Hiện nay, NHNN đang khống chế tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của các TCTD ở mức tối đa là 3% trên tổng dư nợ.
TCTD nào khống chế được nợ xấu trên tổng dư nợ dưới mức cho phép của NHNN là 3% thì hoạt động tín dụng của các TCTD đó không đáng lo ngại, chất lượng tín dụng vẫn đảm bảo, còn TCTD nào có tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ càng cao thì khả năng thu hồi lãi và gốc của các khoản nợ xấu sẽ rất khó, làm tăng nguy cơ mất vốn của TCTD. Chỉ tiêu: Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng = x 100 8 Chỉ số này cho ta thấy bao nhiêu phần trăm dư nợ được trích lập dự phòng, tỷ trọng này càng cao chứng tỏ rủi ro tín dụng cũng đang cao do các khách hàng đang có xu hướng chuyển từ nhóm nợ thấp sang nhóm nợ cao hơn, khả năng thu hồi nợ thấp. Và ngược lại, chỉ số này thấp phản ánh chất lượng cải thiện của các khoản nợ, hoặc do công tác thu hồi nợ xấu hiệu quả. Một số nguyên tắc quản lý rủi ro tín dụng Theo hiệp ước Basel, công tác quản lý rủi ro tín dụng nên thực hiện theo một số nguyên tắc.
Các nguyên tắc này tập trung vào các nội dung cơ bản sau đây: - Nguyên tắc 1:Hội đồng quản trị phải có trách nhiệm phê chuẩn hay xem xét lại định kỳ (ít nhất hàng năm) chiến lược rủi ro tín dụng và các chính sách quan trọng của ngân hàng. - Nguyên tắc 2: Lãnh đạo cấp cao phải chịu trách nhiệm thực thi chiến lược rủi ro tín dụng do Hội đồng quản trị phê duyệt và phải xây dựng chính sách và quy trình để nhận diện, đo lường, quản lý và kiểm soát rủi ro tín dụng. - Nguyên tắc 3: Ngân hàng nhận diện và quản lý rủi to tín dụng trong mọi sản phẩm và hoạt động của ngân hàng. - Nguyên tắc 4: Ngân hàng cần phải hoạt động theo các tiêu chí phê duyệt tín dụng đúng đắn và được định nghĩa một cách chính xác.
- Nguyên tắc 5: Ngân hàng cần thiết lập hạn mức tín dụng tổng thể ở cấp độ từng khách hàng và các bên đối tác, nhóm các bên có liên quan. - Nguyên tắc 6: Ngân hàng cần phải thiết lập quy trình tín dụng rõ ràng để phê chuẩn tín dụng mới cũng như đối với việc điều chỉnh, gia hạn, tài trợ khoản tín dụng hiện thời. - Nguyên tắc 7: Gia hạn tín dụng phải được thực hiện trên cơ sở đầy đủ. - Nguyên tắc 8: Ngân hàng phải có hệ thống để theo dõi, quản lý thường xuyên các danh mục chứa đựng rủi ro rín dụng khác nhau.
- Nguyên tắc 9: Phải có hệ thống để kiểm soát điều kiện từng khoản mục bao gồm cả xác định tỷ lệ dựn phòng và quỹ dự phòng. 9 - Nguyên tắc 10: Ngân hàng được khuyến khích xây dựng và sử dụng hệ thống đánh giá nội bộ để quản trị rủi ro tín dụng. - Nguyên tắc 11: Ngân hàng phải có hệ thống thông tin và các công cụ phân tích giúp Ban Lãnh đạo đo lường được rủi ro tín dụng hiện hữu trong toàn bộ các họat động nội và ngoại bảng. - Nguyên tắc 12: Ngân hàng phải có hệ thống để theo dõi tổng thể thành phần và chất lượng danh mục tín dụng.
- Nguyên tắc 13: Ngân hàng phải xem xét và đánh giá từng khoản tín dụng và danh mục tín dụng và cần đánh giá rủi ro tín dụng trong những điều kiện thay đổi lớn, nghiêm trọng. - Nguyên tắc 14: Ngân hàng phải thiết lập một hệ thống độc lập đánh giá thường xuyên quy trình quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng và kết quả đánh giá này cần được thông tin trực tiếp đến cho Hội đồng quản trị và Ban Lãnh đạo Ngân hàng. - Nguyên tắc 15: Ngân hàng phải đảm bảo rằng chức năng phê duyệt tín dụng được quản lý nghiêm túc rủi ro tín dụng ở trong mức phù hợp với các tiêu chuẩn phòng ngừa và hạn mức nội bộ. - Nguyên tắc 16: Ngân hàng cần có hệ thống để có những xử lý sớm đối với tín dụng đang bị tồi đi, quản lý với khoản tín dụng có vấn đề và kế hoạch xử lý.
- Nguyên tắc 17: Giám sát viên phải yêu cầu các ngân hàng có một phương pháp hữu hiệu để nhận diện, đo lường, theo dõi và quản lý rủi ro tín dụng như là một phần trong kế hoạch quản lý rủi ro tổng thể toàn ngân hàng. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng: 1. Nguyên nhân chủ quan: Nguyên nhân từ Ngân hàng Thương Mại + Việc mở rộng hoạt động tín dụng quá nhanh thường tạo điều kiện cho rủi ro tín dụng của ngân hàng tăng lên. Mở rộng tín dụng quá mức đồng nghĩa với việc lựa chọn khách hàng kém kỹ càng, nhất là trong trường hợp thông tin không cân 10 xứng sẽ dễ dàng tạo ra sự lựa chọn đối nghịch ở đây.
Mặt khác, khi mở rộng tín dụng quá mức sẽ khiến khả năng giám sát của cán bộ tín dụng đối với việc sử dụng khoản vay giảm xuống, từ đó rủi ro đạo đức từ phía người vay thường là hậu quả tất yếu. Mở rộng tín dụng cũng làm cho việc tuân thủ chặt chẽ theo quy trình tín dụng bị lơi lỏng. Các quy định về hạn chế tín dụng, về tài sản đảm bảo…. không được thực hiện nghiêm minh.