Chương 1: Lý luận cơ bản về rủi ro và hạn chế rủi ro tín dụng cho vay đầu tư tại ngân hàng Chương 2: Thực trạng hạn chế rủi ro tín dụng cho vay đầu tư phát triển tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Cao Bằng Chương 3: Giải pháp tăng cường hạn chế rủi ro tín dụng cho vay đầu tư phát triển tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Cao Bằng 6 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CHO VAY ĐẦU TƢ TẠI NGÂN HÀNG 1. Tổng quan về tín dụng cho vay đầu tƣ của ngân hàng 1.Tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Cho đến hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về tín dụng. Cao Thị Ý Nhi (2016) cho rằng: Tín dụng là những quan hệ vay mượn có sự hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định, sự thoả thuận giữa người đi vay và người cho vay về số tiền vay, lãi suất, thời hạn và phương thức trả nợ (trả một lần hay trả dần.
Nhưng nếu chỉ hiểu theo nghĩa đơn giản này thì tín dụng mới chỉ phản ánh ở một khía cạnh nào đó, còn mang tính chất chung chung, chưa bao trùm được cái tổng thể của hoạt động tín dụng. Phan Thị Thu Hà (2013) nêu rõ: “Tín dụng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.Đây cũng là khái niệm được sử dụng trong luận văn. Như vậy, quan hệ cho vay của ngân hàng phải thoả mãn những đặc trưng cơ bản sau: Là quan hệ chuyển nhượng giá trị mang tính chất tạm thời: Sự chuyển quyền sử dụng vốn cho người sử dụng trong một thời gian nhất định, còn quyền sử dụng vốn thuộc quyền người sở hữu. Tức là trong thời gian vay, người cho vay không có quyền đòi và ngược lại, khi hết hạn cho vay nếu người đi vay không trả thì sẽ vi phạm pháp luật.
Đảm bảo tính hoàn trả về thời gian và giá trị: Đây là đặc trưng cơ bản nhất của quan hệ tín dụng, có nghĩa là nếu hết thời hạn vay người đi vay phải thanh toán cả gốc và lãi. Qua đó ta khẳng định rằng tín dụng mang tính chất có hoàn trả nhưng 7 mang tính không ngang giá (thu về khoản tiền lớn hơn khoản tiền ban đầu). Đây là dấu hiệu cơ bản để nhận biết quan hệ tín dụng. Quan hệ tín dụng của ngân hàng được xây dựng trên cơ sở sự tin tưởng giữa người cho vay và người đi vay.
Có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ vay mượn khác, bởi vì có tin tưởng thì họ mới cho vay, ở đây tin có nghĩa là họ sẽ thu hồi nợ là một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Vai trò của tín dụng ngân hàng Sự vận động của tín dụng có những tác động nhất định đối với các hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, vai trò của tín dụng phụ thuộc chủ yếu vào nhận thức và vận dụng của con người vào thực tiễn quản lý kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng có các vai trò như sau: - Tín dụng là công cụ tích tụ, tập trung và tài trợ vốn cho các ngành kinh tế, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, giữa giao lưu vốn trong nước và ngoài nước.
Tín dụng tham gia thu hút vốn tiền tệ tạm thời chưa sử dụng nằm rải rác phân tán trong dân chúng, trong các tổ chức kinh tế và vốn nước ngoài để tập trung hình thành nguồn vốn cho vay. Để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế có thể huy động từ nhiều nguồn vốn khác nhau nhưng nguồn vốn tài trợ của tín dụng là đặc biệt quan trọng. Nhờ nguồn vốn của tín dụng, các doanh nghiệp không những đảm bảo quá trình sản xuất diễn ra bình thường mà còn mở rộng được sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật mới, đảm bảo thắng lợi trong công cuộc cạnh tranh hiện nay. Quá trình tích tụ và tập trung vốn tín dụng tạo ra động lực to lớn thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, giúp các doanh nghiệp đầu tư vào các ngành có tỷ suất lợi nhuận cao, kích thích khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chuyển hướng sản xuất kinh doanh.
Bên cạnh đó, trong điều kiện nguồn thu ngân sách Nhà Nước có hạn, bằng công cụ tín dụng Nhà Nước có thể huy động mọi nguồn vốn để tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế như đường sá, cầu cống, bến cảng, sân bay, điện nước… những công trình đòi hỏi vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài. 8 - Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển, các ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước.Hiện nay, sự phát triển của các ngành kinh tế trong cơ chế thị trường là không đồng đều, các doanh nghiệp thường tập trung dồn vào những ngành có điều kiện thuận lợi, có lợi nhuận cao, ít rủi ro. Bên cạnh đó, chiến lược phát triển kinh tế đòi hỏi phải có sự cân đối hài hòa giữa các ngành kinh tế, đòi hỏi phải có những ngành kinh tế mũi nhọn để tạo động lực phát triển và lôi cuốn các ngành kinh tế khác. Mâu thuẫn đó đòi hỏi Nhà Nước phải sử dụng công cụ tín dụng để tài trợ cho những ngành kinh tế yếu kém, đồng thời khuyến khích phát triển nguồn lực cho những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.
- Tín dụng là công cụ góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả và kiềm chế lạm phát. Thông qua tín dụng, bằng các biện pháp huy động vốn và cho vay, thực hiện nghiệp vụ điều hòa vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, tín dụng đã góp phần làm cho tốc độ luân chuyển hàng hóa và tiền vốn tăng lên. Các hoạt động tín dụng còn tạo điều kiện mở rộng công tác thanh toán không dùng tiền mặt. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển như hiện nay, hệ thống ngân hàng phát triển mạnh mẽ với công nghệ tiên tiến thì đại bộ phận chu chuyển tiền tệ trong xã hội được thực hiện bằng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt thông qua hệ thống ngân hàng.
Điều này cho phép tiết giảm sử dụng tiền mặt, tiết kiệm được chi phí lưu thông xã hội và thúc đẩy tốc độ luân chuyển vốn. - Tín dụng là một trong những phương tiện nối liền kinh tế quốc gia với nền kinh tế của cộng đồng thế giới, góp phần phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại trên thị trường tài chính tiền tệ quốc tế. Tham gia vào mối quan hệ tín dụng gồm có Chính phủ các nước với nhau, các Chính phủ với các tổ chức tiền tệ thế giới và các tổ chức kinh tế với nhau. Đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang trong tiến trình hội nhập cao, mỗi quốc gia đã trở thành một bộ phận của thị trường thế giới, các nước đều thực hiện chính sách kinh tế mở thì tín dụng ngày càng trở nên cần thiết.
Tín dụng quốc tế đã tạo điều kiện cho quá trình chuyển giao công nghệ giữa các nước thực hiện nhanh hơn, góp phần giúp các nước chậm phát triển trong 9 một thời gian ngắn có thể có được một nền sản xuất với kỹ thuật công nghệ cao mà các nước phát triển trước đây phải mất hàng trăm năm mới có được. Khái niệm Nghị định số 32/2017/NĐ-CP ngày 31/3/2017 của Chính phủ định nghĩa về tín dụng đầu tư của Nhà nước: „Tín dụng đầu tư của Nhà nước là một biện pháp hỗ trợ về nguồn vốn từ Nhà nước đối với các doanh nghiệp dưới hình thức cho vay thông qua một định chế tài chính chuyên biệt do Nhà nước thành lập để đầu tư vào một số dự án phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và hạ tầng thuộc những ngành nghề, lĩnh vực hoặc địa bàn mà Nhà nước ưu tiên đầu tư” (Chính phủ, 2017). Tín dụng đầu tư của Nhà nước về bản chất cũng như các loại hình tín dụng đầu tư khác đều dựa trên quan hệ vay trả (bao gồm hoàn trả cả vốn gốc và lãi). Khác với tín dụng thương mại, tín dụng đầu tư của Nhà nước là kênh hỗ trợ vốn cho các pháp nhân ( chủ đầu tư) để khuyến khích họ đầu tư vào các lĩnh vực, các vùng miền mà Chính phủ mong muốn.
Trên thực tế, tín dụng đầu tư của Nhà nước ra đời đã đáp ứng được mục đích của Nhà nước chuyển từ bao cấp vốn sang hỗ trợ dưới dạng cho vay có hoàn trả. Ưu điểm của hoạt động này là các hoạt động đầu tư được sử dụng nguồn vốn Nhà nước để tạo ra nguồn thu có khả năng hoàn trả khoản vốn đã sử dụng. Nhờ đó, tín dụng đầu tư của Nhà nước không chỉ góp phần tập trung được các nguồn vốn cần thiết cho đầu tư phát triển mà còn có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo toàn và phát triển được nguồn vốn của Nhà nước. Thông qua tín dụng đầu tư, Nhà nước có thể mở rộng và chủ động trong việc giải quyết các mục tiêu dài hạn.
Đặc điểm của tín dụng đầu tư Là một loại hình tín dụng trong hệ thống tín dụng của nền kinh tế quốc dân, tín dụng đầu tư của ngân hàng cũng mang những đặc điểm vốn có của tín dụng nói chung (quan hệ ba bên trong đó tổ chức tín dụng đóng vai trò trung gian giữa người có tiền tạm thời nhàn rỗi và người có nhu cầu sử dụng tiền; quan hệ tài chính dựa trên sự tín nhiệm; quan hệ nhượng quyền sử dụng tiền trong một thời gian nhất 10 định; lãi suất là giá của quyền sử dụng tiền theo thời gian…). Tuy nhiên, do được tổ chức thực hiện bởi cơ quan được Nhà nước ủy quyền nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu của Nhà nước, đồng thời lại hướng đến đối tượng phục vụ là hoạt động đầu tư, nên tín dụng đầu tư của ngân hàng mang những đặc điểm riêng, phản ánh sự đan xen giữa đặc điểm của tín dụng và đặc điểm của sử dụng ngân sách nhà nước (NSNN).