XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ DỊCH HẠI TỔNG HỢP 3. Thiết kế chương trình quản lý dịch bại tổng hợp Chương trình quản lý dịch hại thường cần rất nhiều đữ liệu đầu vào liên quan đến nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau. Sự đa dạng và tính linh hoạt của các biện pháp quản lý trong quản lý dịch hại tổng hợp là rất lớn, đặc biệt khi tiến hành xây dựng chương trình quản lý để bảo vệ nhiều loài cây trồng. Để xây dựng chương trình quản lý dịch hại tổng hợp cần chú ý đến một số câu hỏi căn bản thường gặp như: “Có thể dựa trên cơ sở nào để lựa chọn kỹ thuật phòng trừ dịch hại? Liệu biện pháp phòng trừ này có bên vững? Loại phối hợp biện pháp phòng trừ nảo là thích hợp đối với loại dịch hại này? Vì vậy trước hết cần làm rõ bộ khung của chương trình dựa trên kết quả nghiên cứu đã có.
Phân tích tình hình nghiên cứu về quản lý dịch hại Phân tích tình hình nghiên cứu là một phần của thiết kế chương trình quản lý dịch hại tổng hợp. Tổng hợp kết quả nghiên cứu mới về đặc điểm dịch hại, các phương pháp quản lý chúng để đưa các kiến thức mới vào chương trình quản lý là rất cần thiết. Ví dụ nghiên cứu về phát triển loại thuốc trừ dịch hại mới, tính kháng dịch hại của cây trồng, thiên địch. đều là những thông tin quan trọng cần được cập nhật.
Một số nghiên cứu kinh điển đã được thực hiện như nghiên cứu về pheromon, biện pháp sinh học kinh điển, cây kháng dịch hại, thuốc sinh học. Mối liên hệ của các hướng nghiên cứu chính với vấn để dịch hại và các biện pháp quản lý dịch hại được thể hiện trong hình 28. Khi xuất hiện vấn đề dịch hại thường cũng phát sinh nhu cầu nghiên cứu về dịch hại. Ví dụ đó là các nghiên cứu rất cơ bản liên quan đến phân loại, đặc điểm vòng đời, đặc điểm sinh thái của dịch hại.
Để có thể thực hiện nghiên cứu đó cần biết thu thập mẫu, điều tra, giám sát dịch hại. Kết quả nghiên cứu về sinh vật học của địch hại là cơ sở để nghiên cứu đánh giá biến động quần thể dịch hại và nghiên cứu về vấn đề kháng dịch hại của cây chủ. Nghiên cứu về biến động quân thể cho phép hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của thiên địch và từ đó lựa chọn áp dụng biện pháp sinh học. Khi phát sinh vấn đề dịch hại, đặc biệt khi chúng phát dịch, thường có những nghiên cứu về áp dụng biện pháp hóa học, qua đó ngưỡng kinh tế có thể được xác định.
Các mối liên hệ được thể hiện trong hình 28 cũng cho thấy vai trò quan trọng của nghiên cứu khoa học và công tác tập hợp thông tin để xây dựng chương trình quản lý dịch hại tông hợp. QUẢN LÝ DỊCH HẠI TỔNG HỢP TRONG LÂM NGHIỆP 131 NC. |_vịXếđnhcơ| | NGGây Nhân giỏng cây chủ “| chế kháng * | gidngkhangl khang \ A=— Sinh thái hóahợc Môhinh mô phỏng | _— ea Chọncác »| của | tacnhan thién dich sinh học $ ph. Kỹ thuật cera Kỹ thuật3 + giảm sát dựbáo | \_ reer » |Danh giá hiệu quả kinh tế biện pháp quản lý Ha » | Ngưỡng x Sửdụngthuốc ông ngừa : hành động, BVTV dng phd ] 2” Ham $6 ~ thiéthai Mota mere) be Hose 7 — ` Ben thiệthại mở đâu N Mức thiệthai vung Khảo sát a“ vung Hình 28: Mỗi quan hệ hướng nghiên cứu với biện pháp quản lý dịch hại (Theo Dent, 2000) 3.
Cấu trúc của chương trình quân If dich hai ting hop Cấu trúc của chương trình quan lý dịch hại tổng hợp thường bao gồm các mục: 1. Xác định mục tiêu và chiến lược quản lý 2. Thiết lập kế hoạch điều tra, giám sát 3. Lựa chọn biện pháp phòng trừ thích hợp 4.
Sắp xếp các biện pháp quản lý đã được lựa chọn 3. Mục tiéu và chiến lược quản lý Xác định mục tiêu là một phần thiết yêu của chương trình quản lý dịch hại tổng hợp, để làm rõ những gì sẽ phải đạt được. Nếu mục tiêu không thích hợp đồng nghĩa với sự thất bại của chương trình quản lý dịch hại tổng hợp. Mục tiêu chính là thước đo kết quả của chương trình quản lý dịch hại.
Mục tiêu là một thuật ngữ tổng quát, thể hiện khát vọng, ước muốn và kỳ vọng của người quản lý dịch hại. Mục tiêu chứa đựng những ý tứ liên quan đến “tầm nhìn” tương lai và những hoạt động cần phải thực hiện để đạt được mục tiêu đó. Dent (1995) đã sử dụng mối quan hệ thứ bậc giữa mục tiêu với chiến lược để mô tả tóm tắt sơ đồ cây chiến lược quản lý dịch hại. Trong thiết kế chương trình quản lý dịch hại tổng hợp vai trò của các cơ quan, tổ chức khác nhau như 132 QUẢN LÝ DỊCH HẠI TỔNG HỢP TRONG LÂM NGHIỆP chính quyên, viện nghiên cứu, khuyên nông, khuyên lâm, công ty thuôc bảo vệ thực vật, chủ rừng được xác định rõ ràng hơn khi sử dụng cây chiên lược này.
2% + An ich inh ! quyền? Muctiéu: San xuatbén vieng cay lương thực chính tà vi 4 z. eras terre ES T9 tha tiện “trời Chiến lược: Cụng cấp tiền cho nghiên cứu về cải thiện giống và bảo vệ cây wie Tnhh Tàn trồng, tiền cho thuốc bảo vệ thực vật và phân bón An tan Pele Tà in teeta Poet tết in betel am “Am a tế, = es Senne +. fo Re Re Bế No: Net vở Kể Ni „ ` /. tViện nghiên cứu h Mụctiếu: Cải thiện giỗng cay trong thong qua biện pháp nhân giỗng Tnhh nh ga gi TA an Án Chiến lược: Nhân giống cầy kháng sâu bệnh bằng kỹ thuật gây giỗng TA 00t T5 04 e nh ve: thông dụng Tư ng ng PETES OL ERAT TEES, - wn a | , |> ` tPhỏ g/Trung tâm Mụcriêu: Nhân giỗng cây trông Mụucriêu: Nhân giồng eay trong ng TA SA Á o2 dài kháng sâu hại Khang bénh hai Hla Ee Ma ll gt a alt at a Oe PE, tà Steet ate Chiễn lược: Chọn phối: mằm kháng Chiếnlược: Chọn phôi mam kháng i aes PEEP EEEE ES sau hai chỗi, đánh giá bệnh bồ hỏng, nhận diện needa am nies cơ chế kháng biotype suntesssserertras Tu ng hàng: _Đưa giống có triển vọng tốt vào chương trỉnh nhân giống cây TU Ân nh hd g da hài kháng sâu hoặc kháng bệnh hai Hình 29: Cây chiến lược trong thiết kế chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (Theo Dent, 1995) Karlöf (1987) cho rằng mục tiêu và chiến lược quản lý có mối liên hệ theo kiêu thứ bậc, trong đó mục tiêu của một cấp xuất phát từ chiến lược của cấp trên đó, ngược lại chiến lược của cấp này trở thành mục tiêu của cấp dưới nó.
Như trong hình 30, mục tiêu của Phòng hoặc Trung tâm nghiên cứu giống cây trồng là “Nhân giống cây kháng sâu hại hoặc bệnh hại” xuất phát từ chiến lược “Nhân giống cây kháng sâu bệnh bằng kỹ thuật gây giống” của Viện nghiên cứu là tổ chức cấp trên của trung tâm giống cây trồng. Mục tiêu “Cải thiện giống cây trồng thông qua biện pháp nhân giống” của Viện nghiên cứu xuất phát từ chiến lược của chính quyền. Láp kế hoạch gidm sat trong quan ly dich hại tong hop Để lập kế hoạch giám sát cần chú ý đến loại giám sát, đặc điểm sinh học và bản chất gây hại của sinh vật. Giám sát dịch hại bao gồm hai loại chính là điểu tra (hoặc khảo sát thực địa) và giám sát thực địa.
Khảo sát thực địa được thực hiện để nghiên cứu về phân bố hoặc nghiên cứu về phân bố và mức độ phong phú của một loài dịch hại. Mục đích của điều tra khảo sát phân bố là xác định và lập bản đồ phân bố địa lý của một loài dịch hại. QUẢN LÝ DỊCH HẠI TỔNG HỢP TRONG LÂM NGHIỆP 133 Điều tra xác định đặc điểm phân bố và mật độ được sử dụng để đánh giá mức độ lây nhiễm và đặc điểm di cư của dịch hại. Điều tra thực địa giúp nhận ra khu vực bị nhiễm dịch hại tương đối cao và đặc điểm phân bố theo mùa ở các khu vực khác nhau.
Sự khác nhau này có thể liên quan đến điều kiện môi trường khác nhau, qua đó cung cấp thông tin làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến biến động của quần thể dịch hại. Mức lây nhiễm và các yếu tố môi trường ở các khu vực đặc thù có thể được coi là chỉ thị cho nguy cơ sắp xảy ra dịch và vì thế được sử dụng để dự báo vùng. Kỹ thuật điều tra thực địa được sử dụng để xác minh sự xuất hiện hoạt động di cư theo mùa hoặc di chuyên không thường xuyên của một số loài dịch hại. Hiểu biết về nơi xuất xứ của quan thé va su di chuyén của chúng được sử dụng trong dự báo.
Sự di cư của dịch hại có thể liên quan đến thời tiết. Mục đích của biện pháp giám sát thực địa là cung cấp cho chủ rừng cơ sở ra quyết định quán lý. Kỹ thuật giám sát thực địa như sử dụng bẫy, đếm số lượng trứng, sâu non được thực hiện để có dữ liệu về sự thay đổi quần thê dịch hại trên cây trồng hoặc trong rừng. Các số liệu này được sử dụng để quyết định thực hiện các biện pháp phòng trừ dịch hại.
Giám sát thực địa là một bộ phận của sinh thái quần thể. Thông tin này dùng để xây dựng kế hoạch giám sát trong chương trình quản lý dịch hại tổng hợp. Giám sát liên tục được thực hiện với mục đích xác định con đường dẫn đến biến động quần thể ở các đối tượng cây trồng, giai đoạn phát triển, mùa vụ khác nhau, qua đó xác định thời gian phát triển, tỷ lệ chết, thời gian của một thế hệ dịch hại trong các điều kiện sống khác nhau. Số liệu có thể được sử dụng để tính tốc độ phát triển và dự báo dịch hại.
Thiệt hại kinh tế có liên quan đến mức lây nhiễm dịch hại được sử dụng để xác định ngưỡng thiệt hại. Giám sát thực địa được triển khai để theo đối sự phát triển của quần thể dịch hại xem đã đến ngưỡng hành động chưa, là chỉ thị cho quyết định sử dụng thuốc trừ sâu hoặc để xây dựng mô hình dự báo thời gian sử dụng thuốc thích hợp. Giám sát tại điểm cô định thường được sử dụng ở các trạm nghiên cứu, nơi các loại bẫy như bẫy đèn, bẫy hồ, bẫy pheromon. được đặt cô định để thu mẫu sâu hại.
Phương pháp này được sử dụng để nhận biết sự xuất hiện của sâu hại ở một địa điểm nào đó và so sánh sự khác biệt giữa các mùa.