CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH Mã chương: MH22-01 Thời gian: 6 giờ (LT: 2; TH: 0; KT: 0; Tự học: 4) Giới thiệu: Chương đầu tiên sẽ giới thiệu đến người đọc những nội dung cơ bản về phân tích hoạt động kinh doanh như khái niệm, đối tượng, ý nghĩa, nhiệm vụ, nội dungphân tích hoạt động kinh doanh và các phương pháp chủ yếu thường được sử dụng trong phân tích. Mục tiêu: - Trình bày được khái niệm, ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh trong hệ thống quản lý doanh nghiệp; - Nhận biết được đối tượng nghiên cứu của phân tích hoạt động kinh doanh; - Phân loại được các hình thức phân tích hoạt động kinh doanh để vận dụng vào tổ chức phân tích hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp; - Vận dụng được 4 phương pháp phân tích chủ yếu nhất của phân tích hoạt động kinh doanh vào phân tích hoạt động kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp; - Có khả năng sử dụng các phương pháp phân tích hoạt động kinh doanh để đánh giá các chỉ tiêu trong doanh nghiệp. Nội dung chính: 1.Khái niệm, nội dung và ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh 1. Khái niệm Phân tích hiểu theo nghĩa chung nhất đó là sự phân chia các sự vật, hiện tượng thành các bộ phận nhỏ nhằm nghiên cứu những đặc trưng riêng của từng bộ phận,sau đó tổng hợp các đặc trưng để tìm ra bản chất hay tính quy luật của sự vật hiện tượng cần nghiên cứu.
Phân tích hoạt động kinh doanh: là việc phân chia các hiện tượng và các quátrình và các kết quả kinh doanh thành nhiều bộ phận cấu thành, từ đó sử dụng cácphương pháp đặc thù như liên hệ, so sánh, đối chiếu…đề làm sáng tỏ bản chất củaquá trình kinh doanh, góp phần nâng cao hiệu quả của từng hoạt động. Tiền thân phân tích hoạt động kinh doanh là công việc có tính xem xétđơn giản một số chỉ tiêu tổng quát dựa trên dữ liệu của bảng tổng kết tài sản –còngọi là phân tích kế toán hay kế toán nội bộ. Do sự đòi hỏi ngày càng cao của nhucầu quản lý, sự mở rộng về quy mô cũng như xu hướng đi vào chiều sâu và chấtlượng của các hoạt động doanh nghiệp, phân tích hoạt động kinh doanh với nộidung, đối tượng phạm vi và phương pháp nghiêu cứu riêng biệt, tất yếu trở thànhmột khoa học độc lập và ngày càng hoàn chỉnh. Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh là: Các kết qủa của quá trìnhsản xuất kinh doanh cụ thể được biểu hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế, với sự tác độngcủa các nhân tố kinh tế.
Kết quả của quá trình kinh doanh được hiểu theo nghĩa rộng: Nó không chỉbao gồm kết quả tài chính cuối cùng tại đơn vị mà còn bao gồm kết quả từng quátrình, từng bộ phận, từng khâu của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thể hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế. * Chỉ tiêu kinh tế: là một phạm trù kinh tế có nội dung tương đối ổn định thểhiện kết quả kinh doanh của từng hoạt động.Chỉ tiêu kinh tế có nhiều loại như: - Chỉ tiêu số lượng: phản ánh quy mô của kết quả hay điều kiện sản xuất kinh doanh. 8 - Chỉ tiêu chất lượng: phản ánh hiệu suất, hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng các yếu tố.
Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt được là do sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau. Nhân tố có thể là nguyên nhân hay điều kiện ảnh hưởng tới kết quả sản xuất kinh doanh. * Nhân tố cũng bao gồm nhiều loại: nhân tố số lượng, nhân tố chất lượng, nhân tố tích cực, nhân tố tiêu cực, nhân tố có thể định lượng được, nhân tố không thể định lượng được, nhân tố thuận, nhân tố nghịch, nhân tố chủ quan (bên trong) phản ánh nỗ lực của bản thân doanh nghiệp, nhân tố khách quan (bên ngoài). Doanh nghiệp chỉ có thể nhận thức tác động của các nhân tố khách quan để khai thác, vận dụng chúng sao cho có lợi đối với doanh nghiệp.
Sự phân biệt giữa chỉ tiêu kinh tế và các nhân tố ảnh hưởng trong phân tích kinh tế chỉ có ý nghĩa tương đối và chúng có thể chuyển hóa cho nhau. Ví dụ như sản lượng sản phẩm, hàng hóa tiêu thụ là chỉ tiêu đánh giá kết quả tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, nhưng lại là nhân tố khi phân tích lợi nhuận về tiêu thụ sản phẩm hàng hóa. Như vậy, có thể nói đối tượng của phân tích hoạt động kinh tế là kết quả sản xuất kinh doanh, cụ thể biểu hiện qua các chỉ tiêu kinh tế gắn liền với các nhân tố ảnh hưởng. Ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh - Công tác phân tích hoạt động kinh doanh sẽ cung cấp những thông tin đầyđủ, chính xác, kịp thời tình hình của doanh nghiệp (tình hình quản lý và sử dụng cácyếu tố lao động, tài sản, nguồn vốn, vật tư, tình hình sản xuất tiêu thụ và tình hìnhtài chính của doanh nghiệp) trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
- Phân tích hoạt động kinh doanh cho phép các nhà doanh nghiệp thấy đượccác mặt mạnh, mặt yếu cũng như những khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp từ đóđề xuất các biện pháp đưa doanh nghiệp tới các mục tiêu đã định trước. - Phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nhận thức hoạt động kinh doanh, là cơ sở cho việc ra quyết định đúng đắn trong chức năng quản lý, nhất là các chứcnăng kiểm tra, đánh giá và điều hành hoạt động kinh doanh để đạt các mục tiêukinh doanh. - Tài liệu của phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ cần thiết cho nhữngnhà quản trị ở bên trong doanh nghiệp mà còn rất cần cho những đối tượng bênngoài doanh nghiệp khi mà họ có mối quan hệ về mặt lợi ích với doanh nghiệp, vìthông qua phân tích họ mới có thề quyết định đúng đắn trong việc hợp tác đầu tư,cho vay…với doanh nghiệp nữa hay không. Nhiệm vụ của phân tích hoạt động kinh doanh - Kiểm tra và đánh giá thường xuyên, toàn diện tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong việc thực hiện các chỉ tiêu kinh tế đã xây dựng.
- Đánh giá tình hình siwr dụng lao động, vật tư, tiền vốn, tài sản cố định. Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu và tìm nguyên nhân. - Đánh giá tình hình thực hiện các chế độ, chính sách và pháp luật của Nhà nước. - Phát hiện và đề ra các biện pháp khắc phục những tồn tại, yếu kém của doanh nghiệp cũng như khai thác khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp để phát triển.
- Xây dựng phương án kinh doanh căn cứ vào các mục tiêu đã định. Nội dung của phân tích hoạt động kinh doanh - Phù hợp với đối tượng nghiên cứu, nội dung chủ yếu của phân tích hoạtđộng kinh doanh là: 9 - Phân tích các chỉ tiêu về kết quả kinh doanh như: Sản lượng, sản phẩm,doanh thu bán hàng, giá thành, lợi nhuận. - Các chỉ tiêu kết quả kinh doanh được phân tích trong quá trình sản xuấtkinh doanh như: lao động, tiền vốn, vật tư, đất đai… - Để thực hiện nội dung trên, phân tích kinh doanh cần xác định các đặctrưng về mặt lượng của các quá trình hoạt động (Số lượng, kết cấu, quan hệ, tỷlệ…) nhằm xác định xu hướng và nhịp độ phát triển, xác định những nguyên nhânảnh hưởng đến sự biến động của các quá trình kinh doanh, tổ chức và trình độ chặtchẽ của mối liên hệ giữa kết quả kinh doanh với các điều kiện (yếu tố) sản xuấtkinh doanh. Các phương pháp phân tích hoạt động kinh doanh 1.
Phương pháp so sánh 1. Khái quát chung về phương pháp so sánh - Mục tiêu so sánh trong phân tích kinh doanh là xác định mức biến độngtuyệt đối và mức biến động của chỉ tiêu phân tích (ngân sách tăng lên, giá thànhgiảm). + Mức biến động tuyệt đối: được xác định trên cơ sở so sánh trị số của chitiêu giữa 2 kỳ: Kỳ phân tích và kỳ gốc hay đúng hơn so sánh giữa số phân tích vàsố gốc. + Mức biến động tương đối: là kết quả so sánh giữa số thực tế với số gốc đãđược điều chỉnh theo một hệ số của chỉ số có liên quan theo hướng quyết địnhquymô của chỉ tiêu phân tích.
- Cách phân tích trên được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực phân tíchnhư: Phân tích lao động, vật tư, tiền vốn, lợi nhuận… 1. Trình tự thực hiện Để phương pháp này được phát huy hết tính chính xác và khoa học, trong quá trình phân tích cần thực hiện đầy đủ ba bước sau: * Bước 1: Lựa chọn các tiêu chuẩn để so sánh - Gọi Q là chỉ tiêu cần phân tích theo phương pháp so sánh. - Trước hết chọn chỉ tiêu của một kỳ làm căn cứ để so sánh, được gọi là kỳ gốc (Q0). Tùy theo mục tiêu nghiên cứu mà lựa chọn kỳ gốc so sánh cho thích hợp: + Kỳ gốc là năm trước: người phân tích muốn thấy đuợc xu hướng phát triển của đối tượng phân tích.
+ Kỳ gốc là năm kế hoạch (hay là định mức): người phân tích muốn thấy được việc chấp hành các định mức đã đề ra có đúng theo dự kiến hay không. + Kỳ gốc là chỉ tiêu trung bình của ngành (hay khu vực hoặc quốc tế): người phân tích muốn thấy được vị trí của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng thị trường của đơn vị. - Kỳphân tích là năm thực hiện (Q1): Là chỉ tiêu thực hiện trong kỳ hạch toán hay kỳ báo cáo. * Lưu ý về điều kiện so sánh được Để phép so sánh có ý nghĩa thì điều kiện tiên quyết là các chỉ tiêu được đe m so sánh phải đảm bảo tính chất so sánh được không gian và thời gian.
- Về thời gian: Các chỉ tiêu phải được tính trong cùng một khoảng thời gian hoạch toán như nhau (cụ thể như cùng tháng, quý, năm….) và phải đồng nhất trêncả ba mặt. + Cùng phản ánh nội dung kinh tế + Cùng một phương pháp tính toán + Cùng một đơn vị đo lường - Về không gian: Các chỉ tiêu kinh tế cần phải được quy đổi về cùng quy môtương tự như nhau (cụ thể là cùng một bộ phận phân xưởng, một ngành). * Bước 2: Tính số liệu so sánh Để đáp ứng cho các mục tiêu so sánh người ta thường sử dụng các kỹ thuật sosánh sau: 10 - So sánh bằng số tuyệt đối: Là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tíchso với kỳ gốc, kết quả so sánh này biểu hiện khối lượng, quy mô của các hiệntượng kinh tế.