Chương 1: Đề cập đến những khái niệm cơ bản liên quan đến môn học như: Phản loại, Phân loại tự nhiên và phân loại nhân tạo, Phán loại khoa học và phân loạt tài liệu thư viện, Bảng phân loại, Ký hiệu phân loại đồng thời 5 nêu những ứng dụng của phân loại tài liệu trong công tác thông tin thư viện và phán tích các đặc điểm của ngôn ngữ tìm tin theo phán loại. Chương 2: Lịch sử công tác phân loại tài liệu: giới thiệu khái quát về quá trình hình thành và phát triển của công tác phân loại tài liệu ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam từ thời kỳ cổ đại cho đến nay. Chương 3: Giới thiệu một số bảng phân loại tiêu biểu của thế giới và Việt Nam chẳng hạn: Bảng phân loại thập phân Dewey (DDC), Bảng phân loại thập phân bách khoa quốc tế (UDC), Bảng phân loại thư viện thư mục BBK, Bảng phân loại dùng cho thư viện khoa học tổng hợp do Thư viện Quốc gia Việt Nam biên soạn và một số bảng phán loại khác như: Bảng phán loại Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ (LCC), Bảng phê: toại Hai chấm của Ranganathan, Khung đề mục quốc gia. Chương 4: Phương pháp phán loại tài liệu: Chương này nêu lên các nguyên tắc cơ bản khi tiến hành phân loại tài liệu, quy trình phân loại tài hiệu với phương pháp chung và phương pháp cụ thể áp dụng với một số nhóm tài liệu các chuyên ngành và hiên ngành.
Trong quá trình biên soạn giáo trình tôi dã nhận được sự giúp đỡ tận tình và những ý kiến đóng góp quý báu của các bạn đồng nghiệp, các cán bộ Thư viện Quốc gia Việt Nam, Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Viện thông tin Khoa học Xã hội, một số thư viện và cơ quan thông tin ở Việt Nam. Nhân đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các bạn đông nghiệp, những người đã giúp đỡ và đóng góp ý kiến cho tôi trong quá trình biên soạn giáo trình. 6 Trong lần tái bản này chúng tôi đã cập nhật thêm một số thông tin mới thu thập được, giới thiệu nhiều hơn về Bảng phân loại thập phân Dewey rút gọn ấn bản 14, bổ sung thêm một số bài tập, lược bới một số phụ lục so với lần xuất bản trước. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn giáo trình sẽ khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định.
Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý của các bạn đông nghiệp để giáo trình có thể hoàn thiện hơn trong các lân xuất bản sau. Vũ Dương Thuý Ngà Chương ] LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN LOẠI VÀ PHÂN LOẠI TÀI LIỆU 1. Phản loại Phân loại là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội và nhiều ngành khoa học. Phân loại hiểu theo nghĩa rộng là việc sắp xếp, tổ chức các sự vật, hiện tượng và toàn bộ tri thức hoặc thông tin theo một trật tự có hệ thống.
Đây là một hoạt động cơ bản, một hoạt động trí tuệ của con người. Để nhận biết và nghiên cứu về các sự vật hiện tượng, con người đã tiến hành việc phân loại với nhiều mục đích kháo nhau. Gốc của thuật ngữ phân loại trong tiếng Latinh là Classifacen. Trong đó Class là cấp bậc, loại và ƒœcen là phân chia.
Phân loại là phân chia thành các lớp, các cấp bậc. Sau này, nhiều ngôn ngữ đã dùng thuật ngữ phân loại xuất phát từ gốc Latinh đó. Trong tiếng Anh và tiếng Pháp, phân loại đều được viết là Classification. Trong tiéng Nga, phan loại là Klassifikacija.
Trong tiếng Việt, phân loại vốn là một từ gốc 9 Hán, trong đó phán là chia, tách ra và loại là loài giống. Trong Từ điển Tiếng Việt phân loại được định nghĩa là “Phản ra thành nhiều loại”. 772) Theo Từ điển Oxƒford phân loại có hai nghĩa: Một là chỉ hoạt động phân loại và hai là chỉ sự phân chia hoặc sắp xếp có hệ thống trong một lớp hoặc các lớp. Trên cơ sở nhiều định nghĩa và cách lý giải khác nhau đã nêu trên, có thể rút ra bản chất của phân loại là sự phân chia, sắp xếp các sự vật hiện tượng theo những tiêu chí nhất định.
Các tiêu chí này được đặt ra trên cơ sở phân tích một số thuộc tính đặc trưng của sự vật, hiện tượng. Từ những thuộc tính này sự vật, hiện tượng sẽ được phân chia thành các lớp, các loại dựa trên những dấu hiệu giống nhau và khác nhau của chúng. _ Lớp trong khái niệm phân loại là một tập hợp các đơn vị có cùng chung một hoặc một số đặc tính nhất định. Các đơn vị cùng chung một đặc tính này tạo thành một lớp.
Đặc tính của các đơn vị trong lớp tạo nên những đặc tính chung của cả lớp. Đó là những dấu hiệu để nhận dạng ra lớp đó. Ví dụ: Toán học, Thiên văn học, Vật lý học, Hoá học đều có đặc tính chung là ngành khoa học tự nhiên. Các ngành khoa học tự nhiên đó đã tạo thành lớp khoa học tự nhiên.
Cơ sở để phân chia lớp là những điểm giống nhau và khác nhau của sự vật hiện tượng. Dựa vào đó, người ta phân chia thành lớp và các lớp con. Lớp phân loại bao gồm lớp khởi đầu và lớp phái sinh. Lớp phái sinh là các lớp được chia ra từ lớp 'khởi đầu.
Nếu cứ tiếp tục chia nhỏ lớp phái sinh đó ta được lớp phái sinh tiếp theo. 10 Trở lại ví dụ trên Khoa học tự nhiên là lớp khởi đầu và Toán, Thiên văn học, Vật lý học, Hoá học là các lớp phái sinh. Lớp có thể phân chia nhỏ tiếp tục được gọi là lớp nút. Lớp nhỏ nhất không thể chia nhỏ hơn được nữa được gọi là lớp cực biên.
Ví dụ: Toán học là lớp phái sinh. Lớp này có thể chia nhỏ thành: Toán học sơ cấp và toán học cao cấp. Toán học sơ cấp lại có thể phân thành: Số học, Đại số học sơ cấp, Hình học sơ cấp và lượng giác học. Trong lượng giác lại có thể phân thành lượng giác phẳng và lượng giác cầu.
Đó là lớp nhỏ nhất. Các lớp Toán học, Toán học sơ cấp, Lượng giác là các lớp nút còn lượng giác phẳng và lượng giác cầu là các lớp cực biên. Sự phân chia các lớp từ khái quát đến cụ thể, từ lớn đến nhỏ, từ chung đến riêng thực chất là việc phân chia theo thứ bậc hay còn gọi là phân chia theo đẳng cấp. Quan hệ đẳng cấp dựa trên nguyên tắc bao trùm và phụ thuộc.
Lớp 1 là lớp khởi đầu bao trùm lớp 2, lớp 2 bao trùm lớp 3, lớp 3 bao trùm lớp 4. và ngược lại lớp 4 phụ thuộc lớp 3, lớp 3 phụ thuộc lớp 2 và lớp 2 phụ thuộc lớp 1. Trong phân loại tài liệu, lớp được đồng nghĩa với môn loại. Trong các bảng phân loại, lớp chính còn được gọi là dãy cơ bản.
Trong mỗi sự vật hiện tượng đều có những dấu hiệu đặc trưng nhất định giúp cho chúng ta có thể nhận biết về sự vật hiện tượng đó. Việc lựa chọn dấu hiệu đặc trưng nào làm cơ sở để phân loại sẽ quyết định tính chất của việc phân loại. Dựa trên tính chất của các dấu hiệu đặc trưng cho đối tượng phân 11 loại mà việc phân loại được chia thành hai dang: Phan loại tự nhiên và phán loại nhân tạo. Phân loại tự nhiên và phân loại nhân tạo Phân loại tự nhiên là dạng phân loại dựa vào những đặc điểm, dấu hiệu giống nhau và khác nhau thuộc bản chất của sự vật, hiện tượng.
Cách phân loại này phản ánh mối quan hệ khách quan giữa các sự vật hiện tượng trong quá trình xuất hiện và phát triển của chúng mà không phụ thuộc vào ý muốn của con người. Dấu hiệu tự nhiên là tính chất cơ bản trong một tổng thể các tính chất của đối tượng được phân loại. Các tính chất này là bản chất của sự vật và hiện tượng, nếu thiếu nó ta không thể nhận dạng hoặc xác định chính xác về đối tượng muốn xem xét, nghiên cứu. Ví dụ: Sinh vật là khái niệm chỉ các vật sống, bao gồm động vật và thực vật, vi sinh vật có trao đổi chất với môi trường bên ngoài, có sinh đẻ, lớn lên và chết.
Để nhận biết về các loại sinh vật khác nhau, người ta chia sinh vật thành ba loại: động vật, thực vật và vi sinh vật. Trong đó động vật là sinh vật có cảm giác và tự vận động được, thực vật là tên gọi chung của các loại cây cỏ và những sinh vật bậc thấp khác có tính chất như cây cỏ, trong các tế bào cơ thể thường có màng bằng cellulose và vi sinh vật là những sinh vật rất nhỏ bé thường phải dùng kính hiển vi mới thấy được. Để nhận biết vẻ động vật, người ta lại có thể chia động vật thành các loại: động vật nguyên sinh, động vật không xương sống, động vật có xương sống và động vật có vú. Trong đó, động vật nguyên 12 sinh là những động vật đơn bào gồm các loại amip, trùng roi, trùng sốt rét.; động vật không xương sống là những động vật không có cột sống như sâu bọ, trai, ốc, giun sán.; động vật có xương sống là những động vật có cột sống nằm dọc thân phía lựng gồm cá, ếch nhái, chim và thú, động vật có vú là động vật có xương sống bậc cao, có lông mao tuyến vú, nuôi con bằng sữa.
Phân loại nhán tạo là dạng phân loại dựa vào những đặc điểm, dấu hiệu có tính chất thứ yếu, những đặc điểm hình thức của sự vật hiện tượng. Những dấu hiệu này tuy không phản ánh đầy đủ bản chất của một sự vật hiện tượng, nhưng nó hỗ trợ cho việc xem xét, nhận dạng về đối tượng đó. Phân loại tự nhiên và Phân loại nhân tạo tuy khác nhau về bản chất nhưng chúng đều được áp dụng rộng rãi trong đời sống, khoa học và xã hội. Tùy theo mục đích đặt ra, người ta có thể sử dụng phân loại tự nhiên hoặc phân loại nhân tạo.
Có những trường hợp lấy phân loại tự nhiên làm cơ sở để phân chia, song cũng có nhiều trường hợp phân loại nhân tạo được sử dụng làm cơ sở để phân loại, nhận biết về các đối tượng khác nhau. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào mục đích của người phân loại. Trong các thư viện và cơ quan thông tin, việc phân chia tài liệu theo nội dung tài liệu là phân loại tự nhiên và việc phân chia tài liệu theo hình thức, khổ cỡ của tài liệu là phân loại nhân tạo.