Chương 1. BẢN CHẤT VÀ CÁC ĐẶC TRƯNG CUA TƯ DUY 19 trong quá trình ấy tư duy càng ngày càng liên hệ gián tiếp hơn với hiện thực, tuy nhiên không bao giờ thoát ly khỏi nó. Trên tầm độ tư duy lý luận cao những yếu tố như trí tưởng tác tạo, tưởng tượng, trực giác, có vai trò rất lớn. Trí tướng tác tạo là thành tố của hoạt động sáng tạo có nhiệm vụ xây dựng hình ảnh của sản phẩm cuối cùng hay các sản phẩm trung gian của hoạt động.
Có những ý kiến hoài nghi hoặc thậm chí phủ nhận khía cạnh này của nhận thức. Trong khi đó ý nghĩa của chúng trong nhận thức khoa học trở lên ngày càng rõ rệt và gia tăng theo đà ý thức tiến vào bản chất sâu sắc của các hiện tượng, vào “những bí mật” kín đáo nhất của hiện thực. Như đã biết, nhiều quá trình vật chất không thể tri giác cảm tính, hoặc quan sát trực tiếp nhờ dụng cụ tân kỳ nhất mà ngày nay khoa học đang có. Chỉ có thể thâu tóm, hình dung chúng trong ý thức.
Chính viễn tưởng khoa học, giả tưởng sáng tạo dựa trên cơ sở thực tiễn mới cho phép nhà khoa học thâm nhập vào lòng sâu nguyên tử, vào khoảng không bao la các thiên hà, vào bản chất của những đối tượng, hiện tượng mà các giác quan con người không tiếp cận được. Lénin gọi khả năng con người tưởng tượng là thiên tính vô cùng quý giá. “Người ta sẽ nhằm nếu cho Tăng trí tưởng tượng chỉ cần thiết cho thi sĩ. Đó là một thiên kiến ngu xuân! Ngay cả trong toán học, trí tưởng tượng cũng cần thiết; ngay việc phát minh ra tính vi phân và tính tích phân cũng không thể có được nếu không có trí tưởng tượng.
Trí tưởng tượng là một phẩm chất vô cùng quý giá. Mọi tư duy lôgíc, khoa học lý luận đều chứa những yếu tố viễn tưởng khoa học, thiếu nó thì không thể có nhận thức các quá trình theo chiều sâu, các quy luật bên trong của sự phát triển thế giới vật chất và tinh thần. Trên thực tế những quá trình định hình khái niệm, xây dựng các học thuyết khoa học về những quy luật vận hành, phát triển của tự nhiên, xã hội và của chính tư duy đều đòi hỏi sử dụng rộng rãi những thủ thuật khoa học, trí tưởng tượng, lý tưởng hóa. Nhờ chúng mà nhiều khi khoa học xây đựng những khách thé lý tưởng hóa chỉ tồn tại trong tưởng tượng nhà khoa học, nhưng lại cho phép thâm nhập sâu vào bản chất của khách thể.
Những thủ thuật nhận thức ấy tất yếu chứa yếu tố viễn tưởng khoa học. Thậm chí cá sự khái quát đơn giản cũng không thể thiếu tưởng tượng. Lênin nhận xét: “Ngay trong sự khái quát đơn giản nhất, trong ý niệm chung sơ đẳng nhất (“cái bàn” nói chung) cũng có một phần nhất định của áo tưởng. (Vice versa: thật vô lý: nêu phải phủ nhận vai trò của ảo tưởng ngay trong khoa học chính xác nhất.
Lénin: Todn tdp, tap 45, Nxb. Tién bộ, Matxcova, 1978, tr. Lénin: Todn tdp, tap 29, Nxb. Tién b6, Matxcova, 1981, tr.
20 GIAO TRINH LOG{C HOC BIEN CHUNG Các nhà khoa học hàng đầu thế giới đều đã nói về và nhắn mạnh vai trò của tưởng tượng trong các phát minh nền tảng vốn chỉ do những nhà khoa học mà bên cạnh những phẩm chất khác còn có thêm năng lực viễn tưởng khoa học, thiên tính tưởng tượng sáng tạo tìm ra. Tưởng tượng khoa học cũng đóng vai trò không kém phần quan trọng trong việc xây dựng các mô hình dự báo tương lai. Một trong những chức năng quan trọng nhất của khoa học là đ¿ báo. Mỗi học thuyết khoa học không chỉ cho phép con người giải thích bản chất các hiện tượng mà nó đề cập đến, vạch ra tính quy luật phát triển của chúng và chịu sự chỉ dẫn của những tri thức dy trong hoạt động thực tiễn của mình, mà còn trên cơ sở những tri thức ây cho phép thấy trước những sự kiện tương lai, đoán định trước sự xuất hiện của các hiện tượng trước đây chưa từng biết và trên cơ sở đó hoạch định hoạt động thực tiễn.
Tuy nhiên, việc thấy trước tương lai thậm chí khi đã được trang bị bằng những tri thức khoa học cũng không thể thiếu những viễn tưởng khoa học. Khi nghiên cứu các quy luật phát triển của chủ nghĩa tư bản, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác- Lênin đã đi đến kết luận khoa học về sự thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa cộng sản. Kết luận ayâ được rút ra vào lúc trên thế giới còn chưa có đến cả mầm mống của chế độ cộng sản. Dựa trên cơ sở nào mà C.
Ăngghen đã đặt ra vấn đề về sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản trong tương lai? V. Lênin trả lời: “Xuất phát từ chỗ là chủ nghĩa cộng sản hừnh thành từ chủ nghĩa tư bản, phát triển lên, trong quá trình lịch sử, từ chủ nghĩa tư bản, là kết quả tác động của một lực lượng xã hội do chủ nghia tu ban sinh ra. Trong tài liệu của C. Mac người ta không thấy mảy may một ý định nào nhằm bịa ra những ảo tưởng, nhằm đặt ra những dự đoán vu vơ về những điều mà người ta không thể nào biết được.
Mác đặt vấn đề chủ nghĩa cộng sản giông như một nhà tự nhiên học đặt, chẳng hạn, vấn đề tiến hóa của một giống sinh vật mới, một khi đã biết nguồn gốc của nó và định được rõ rệt hướng của những biến đổi của nó”!. Dự báo khoa học của C. Mac va Ph. Angghen khác chủ nghĩa xã hội không tưởng với những ảo tưởng vô căn cứ về tương lai xã hội ở chỗ, tất cả các dự báo của các ông đều đựa trên sự phân tích khoa học về xu hướng phát triển của nó.
Mác không chỉ nêu ra những đặc điểm cơ bản của xã hội cộng sản tương lai, mà còn xem xét cụ thể các điều kiện sống của xã hội đó. Trong “Phê phán cương lĩnh Gôta” nổi tiếng, Người đã dự báo chế độ cộng sản trải qua hai giai đoạn phát triển thấp và cao, đồng thời chỉ ra đặc trưng của từng giai đoạn. Như vậy, ngay trong điều kiện chế độ tư bán, 1 V,T,Lênin: Toàn đập, tập 33, Nxb. Tiến bộ, Matxcơva, 1976, tr.
BAN CHẤT VÀ CÁC ĐẶC TRUNG CUA TU DUY 21 nhờ tạo ra học thuyết khoa học về sự phát triển của xã hội mà C. Mác đã có thê dự báo trước tương lai phát triển khá xa của xã hội, thậm chí còn phân tích nó. Không thé thực hiện điều đó nếu thiếu viễn tưởng khoa học. Lênin cũng là người điêu luyện trong việc dự báo khoa học.
Để công bằng cần khẳng định lại lần nữa là, không thể có tư đuy nếu thiếu các đữ liệu cảm tính. Các giác quan cung cấp cho con người vật liệu để trên cơ sở đó hình thành các suy nghĩ. Tuy nhiên, tư duy trừu tượng lý luận không chỉ khuôn vào các đữ liệu do giác quan mang lại. Nếu vậy thì Cantơ đã đúng khi khẳng định tính không thể nhận thức của các đối tượng khách quan.
Sức mạnh nhận thức của tư duy khoa học lý luận chính là ở chỗ, nó có khả năng trong những giới hạn nhất định rời khỏi các đữ liệu cảm tính, khắc phục tính hạn chế của chúng, nhưng không ngắt đứt mối liên hệ với chúng như với cội nguồn của mình. Và điều đó ' cho phép chủ thê nhận thức đạt được nhiều hơn đáng kế cái mà giác quan có thể cho, vạch ra bản chất các hiện tượng, khám phá những hiện tượng, những mối liên hệ và quan hệ mới nam ngoài khả năng của nhận thức cảm tính. Tất cả cái đó chỉ đạt được nhờ tư đuy khoa học lý luận với bộ phận không tách rời là viễn tưởng khoa học, là tưởng tượng tác tạo. Gắn liền với trí tưởng tượng tác tạo là trực giác.
Đó là dạng nhận thức cảm tính có mang yếu tô lý tính để tạo thành thời đoạn quan trọng của sáng tạo khoa học. Tri thức trực giác không phải là kết luận lôgíc chặt chẽ, cũng không là kết quả phản ánh cảm tính về hiện thực, mà nảy sinh nhờ phỏng đoán của nhà khoa học, ở mức độ nhất định vẫn gắn với những tri thức đã có trước ở lĩnh vực ấy. Vì thế, không thể cho rằng trí thức trực giác là than bí và do vậy khoa học không thé chấp nhận. Các nhà khoa học, đặc biệt ở thời nay càng hay viện đến dạng nhận thức này hơn.
Cũng như viễn tưởng khoa học, trực giác xuất hiện do kết quả của tưởng tượng tác tạo trên cơ sở những đữ liệu lý thuyết và những biểu tượng cám tính đã được lưu giữ trong trí nhớ. Tuy nhiên, những tri thức ấy không gắn kết với nhau bằng chuỗi lôgíc chặt chẽ theo các quy luật lôgíc hình thức, mà liên kết với nhau bằng cách đặc biệt nào đó mà ý thức cũng chịu bất lực. Vì ý thức không kiểm soát tiến trình tư duy trực giác, trình tự vận động của các tư tưởng riêng rẽ, nên khó có thể xếp nó vào tư duy theo lối các suy luận lôgíc hình thức. Đồng thời tính chất tiềm thức của tư duy trực giác không có nghĩa là nó thiếu tính định hướng, tách khỏi tư đuy có ý thức.
7# nhất, trực giác giải quyết vẫn đề không sớm mà cũng không muộn hơn thời khắc, khi cũng vấn đề ấy được tư duy có ý thức bắt tay vào nghiên cứu. 7⁄ »zi, những lời giải nhận được ở trình độ trực giác giải đáp những bí ân hóc búa nhất đang đứng trước tư 22 GIAO TRINH LOGIC HOC BIEN CHUNG duy có ý thức, cung cấp cho các mô hình của tư duy này chính thứ mà nó đang thiếu. Như vậy, mặc đù tư duy trực giác diễn ra không tuân thủ chặt chẽ các quy luật lôgíc hình thức, nhưng đồng thời nó cũng không hoàn toàn bỏ qua légic va các phương pháp đạt tới tri thức chân thực. Vì tư duy trực giác cho kết quả tích cực không phải từ hư vô, mà trên cơ sở của tư đuy có ý thức, khi đã làm nhiều từ trước để tìm kiếm cách giải quyết sáng tạo vẫn đề đặt Ta, Ngoài ra, tư duy trực giác, như thường thấy, không giải quyết ngay vấn đề, mà chỉ nêu ra con duong và nguyên tắc giải quyết vẫn đề.
Còn việc giải quyết toàn bộ vấn đề được thực hiện không bằng cách nào khác, ngoài cách bằng tư duy có ý thức. Khi kết hợp với các hình thức tư duy khoa học khác, trực giác đóng vai tro quan trong trong sy phát triển của trí thức khoa học.