Giáo trình dung sai lắp ghép: Khái niệm cơ bản và tính đổi lẫn trong cơ khí

Tài liệu giáo trình dung sai và lắp ghép 2008 định dạng Times New Roman chuẩn. Cung cấp kiến thức cơ bản về sai số gia công và đo lường kỹ thuật.

Chuyên ngành

Kỹ thuật cơ khí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2008

104
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về dung sai lắp ghép và kỹ thuật đo cơ khí

Dung sai lắp ghép và kỹ thuật đo cơ khí đóng vai trò nền tảng trong công nghiệp chế tạo máy hiện đại. Môn học này cung cấp kiến thức nền tảng về tính đổi lẫn chức năng của chi tiết máy. Trong sản xuất công nghiệp hàng loạt, mọi chi tiết cùng loại đều cần khả năng thay thế lẫn nhau trực tiếp. Quá trình lắp ráp không yêu cầu sửa chữa bổ sung mà vẫn bảo đảm yêu cầu kỹ thuật nghiêm ngặt. Dung sai xác định phạm vi sai số cho phép của kích thước hình học trong quá trình gia công. Kỹ thuật đo lường cơ khí cung cấp công cụ và phương pháp định lượng chính xác độ lệch thực tế so với bản vẽ kỹ thuật. Sự kết hợp chặt chẽ giữa hai yếu tố này giúp kiểm soát chất lượng sản phẩm toàn diện. Doanh nghiệp sản xuất có thể tối ưu hóa quy trình, hạ giá thành và nâng cao năng suất gia công. Môn học còn xây dựng tư duy kỹ thuật chuẩn xác theo hệ thống tiêu chuẩn quốc gia TCVN và quốc tế ISO. Nắm vững dung sai và kỹ thuật đo là điều kiện tiên quyết cho kỹ sư cơ khí chế tạo.

1.1. Bản chất của tính đổi lẫn chức năng trong chế tạo máy

Tính đổi lẫn chức năng là đặc tính kỹ thuật cốt lõi trong chế tạo máy hàng loạt. Chi tiết đạt tính lắp lẫn hoàn toàn có thể thay thế cho nhau mà không cần gia công gọt sửa hay lựa chọn trước. Yếu tố này giúp dây chuyền lắp ráp hoạt động liên tục và trơn tru. Khi một linh kiện bị hao mòn hay hư hỏng, phụ tùng dự phòng cùng loại lập tức đáp ứng việc thay thế. Thời gian dừng máy giảm thiểu tối đa, giúp duy trì năng suất của nhà xưởng. Ngoài ra, tính lắp lẫn thúc đẩy chuyên môn hóa sản xuất giữa nhiều xí nghiệp công nghiệp phụ trợ. Các bộ phận tiêu chuẩn hóa có thể gia công ở nhiều nhà máy khác nhau rồi tập trung lắp ráp hoàn chỉnh.

1.2. Khái niệm kích thước danh nghĩa và sai lệch giới hạn

Kích thước danh nghĩa là giá trị cơ bản được xác định qua tính toán thiết kế động học và độ bền, sau đó quy chuẩn theo bảng kích thước tiêu chuẩn. Kích thước thực là kích thước nhận được từ kết quả đo trực tiếp trên chi tiết sau khi gia công với độ chính xác cho phép. Sai lệch giới hạn biểu thị hiệu đại số giữa kích thước giới hạn và kích thước danh nghĩa. Sai lệch giới hạn trên và sai lệch giới hạn dưới xác định phạm vi miền dung sai của kích thước. Khoảng cách giữa hai sai lệch này chính là dung sai, đại diện cho độ chính xác yêu cầu của nguyên công chế tạo. Phạm vi dung sai càng nhỏ đòi hỏi công nghệ gia công càng khắt khe.

II. Phân tích miền dung sai lắp ghép và kỹ thuật đo cơ khí

Việc phân tích mối quan hệ lắp ghép giữa trục và lỗ quyết định chất lượng làm việc của cơ cấu máy. Ba nhóm lắp ghép cơ bản gồm lắp lỏng, lắp chặt và lắp trung gian mang các đặc tính kỹ thuật riêng biệt. Lắp lỏng luôn tạo ra khe hở cho phép chuyển động tương đối giữa các bề mặt tiếp xúc. Lắp chặt tạo ra độ dôi để cố định truyền lực ma sát mà không cần then hay chốt hãm. Lắp trung gian xuất hiện cả khe hở lẫn độ dôi tùy thuộc kích thước thực tế của từng chi tiết. Tuy nhiên, sai số hình học, độ nhám bề mặt và sai số đo lường thường xuyên gây lệch chuẩn mối ghép. Nếu miền dung sai không được tính toán tối ưu, sản phẩm dễ bị kẹt cứng hoặc rơ lỏng quá mức. Việc chọn cấp chính xác quá cao làm tăng chi phí chế tạo vô ích. Ngược lại, cấp chính xác quá thấp khiến tuổi thọ máy suy giảm nghiêm trọng. Kỹ sư phải phân tích kỹ điều kiện làm việc thực tế của từng bộ phận cơ khí.

2.1. Phân loại các kiểu lắp ghép tiêu chuẩn bề mặt trơn

Tiêu chuẩn kỹ thuật phân loại lắp ghép bề mặt trơn thành hai hệ thống chính: hệ thống lỗ cơ bản và hệ thống trục cơ bản. Trong hệ thống lỗ cơ bản, sai lệch giới hạn dưới của lỗ luôn bằng 0, ký hiệu bằng chữ H hoa. Người thiết kế thay đổi kích thước trục để tạo các kiểu lắp lỏng, lắp trung gian hoặc lắp chặt tương ứng. Hệ thống này phổ biến hơn vì giảm đáng kể số lượng dụng cụ cắt và ca-líp đo lỗ đắt tiền. Ngược lại, hệ thống trục cơ bản có sai lệch giới hạn trên của trục bằng 0, ký hiệu là h. Hệ thống trục thường ứng dụng khi lắp nhiều chi tiết khác nhau lên cùng một thanh trục dài có đường kính không đổi.

2.2. Các nguyên nhân gây sai số kích thước và hình học

Sai số trong quá trình gia công cơ khí bắt nguồn từ nhiều yếu tố công nghệ phức tạp. Độ rơ mòn của máy công cụ và độ biến dạng nhiệt của phôi tạo ra độ lệch kích thước đáng kể. Dụng cụ cắt bị mòn dần theo thời gian tiếp xúc làm thay đổi biên dạng hình học của bề mặt chi tiết. Lực kẹp không đều trong đồ gá dễ gây hiện tượng méo mó, mất độ tròn hoặc độ trụ sau khi tháo phôi. Bên cạnh đó, sai số đo lường do nhiệt độ môi trường, lực tiếp xúc đầu đo và độ chính xác của thiết bị cũng ảnh hưởng đến kết quả đánh giá. Việc kiểm soát toàn diện các nguồn sai số này là thách thức lớn trong xưởng gia công.

III. Phương pháp tra bảng dung sai và kỹ thuật đo cơ khí chuẩn

Áp dụng quy trình tra cứu tiêu chuẩn và phương pháp đo lường khoa học là giải pháp kiểm soát chất lượng gia công triệt để. Kỹ sư dựa vào kích thước danh nghĩa, cấp chính xác và ký hiệu sai lệch cơ bản để tra bảng dung sai tiêu chuẩn TCVN. Kết quả tra cứu cung cấp chính xác trị số sai lệch giới hạn trên và dưới bằng đơn vị micromet. Khi thể hiện trên bản vẽ, ký hiệu miền dung sai hoặc giá trị số cụ thể được ghi chú rõ ràng theo quy ước. Trong khâu kiểm tra xuất xưởng, các thiết bị đo cơ khí chuyên dụng đóng vai trò quyết định. Thước cặp, panme và đồng hồ so được hiệu chuẩn định kỳ để bảo đảm độ tin cậy của phép đo. Kỹ thuật đo gián tiếp và đo tiếp xúc phải tuân thủ nghiêm ngặt điều kiện nhiệt độ tiêu chuẩn hai mươi độ C. Đánh giá dung sai hình dáng và vị trí tương quan cũng cần kết hợp đồng thời để xác định độ chính xác tổng thể.

3.1. Hướng dẫn quy trình tra cứu bảng sai lệch tiêu chuẩn

Quy trình tra bảng dung sai đòi hỏi kỹ thuật viên xác định ba thông số then chốt trước khi tra cứu. Thứ nhất là loại chi tiết cần kiểm tra, bao gồm trục quy ước chữ thường hoặc lỗ quy ước chữ in hoa. Thứ hai là dải kích thước danh nghĩa để định vị đúng hàng ngang tương ứng trong bảng số liệu tiêu chuẩn. Thứ ba là cấp chính xác kết hợp với ký hiệu vị trí miền dung sai. Giao điểm giữa cột cấp chính xác và hàng kích thước sẽ cho giá trị sai lệch giới hạn trên và sai lệch giới hạn dưới. Việc tra cứu chuẩn xác giúp tránh nhầm lẫn dấu đại số, đảm bảo biên dịch đúng thông số sang kích thước giới hạn gia công trên máy.

3.2. Kỹ thuật sử dụng dụng cụ đo kiểm tra kích thước cơ khí

Thao tác đo kiểm cơ khí yêu cầu việc lựa chọn thiết bị đo phù hợp với cấp chính xác của chi tiết. Thước cặp cơ khí hoặc điện tử dùng để đo nhanh các kích thước thô với độ phân giải 0.02 mm. Panme ngoài và panme trong được ưu tiên cho các bề mặt gia công chính xác với độ phân giải 0.001 mm. Khi đo đường kính lỗ nhỏ hoặc độ đảo mặt đầu, đồng hồ so kết hợp đế từ mang lại độ nhạy cao. Trong sản xuất hàng loạt lớn, việc sử dụng calip trục và calip lỗ giới hạn giúp phân loại nhanh sản phẩm đạt hoặc hỏng mà không cần đọc chỉ số chi tiết. Người đo cần vệ sinh sạch bề mặt trước khi đặt mỏ đo tiếp xúc.

IV. Ứng dụng thực tiễn của dung sai và kỹ thuật đo cơ khí

Kiến thức về dung sai lắp ghép và kỹ thuật đo lường cơ khí có phạm vi ứng dụng rộng rãi trong toàn bộ chuỗi sản xuất công nghiệp. Từ ngành sản xuất ô tô, xe máy, hàng không vũ trụ đến chế tạo thiết bị y tế chính xác đều vận hành trên nền tảng dung sai tiêu chuẩn. Việc xác định đúng dung sai giúp doanh nghiệp cân bằng hài hòa giữa chất lượng cơ tính và chi phí gia công. Quy trình sản xuất tự động hóa trên máy CNC chỉ đạt hiệu quả kinh tế cao khi dữ liệu dung sai được tích hợp chính xác vào chương trình lập trình. Ngoài ra, kỹ thuật đo lường hiện đại với máy đo tọa độ CMM và máy quét 3D quang học mở rộng khả năng kiểm soát chất lượng cho các chi tiết phức tạp. Bộ môn này là hành trang bắt buộc đối với sinh viên kỹ thuật và kỹ sư cơ khí chế tạo. Năng lực làm chủ dung sai đo kiểm giúp nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp trên thị trường quốc tế.

4.1. Ứng dụng trong thiết kế và lắp ráp mối ghép then ren

Mối ghép then và ren là hai liên kết tháo được thông dụng nhất trong mọi kết cấu máy móc hiện đại. Tiêu chuẩn dung sai ren quy định dung sai cho đường kính ngoài, đường kính trong và đường kính trung bình của profin ren. Dung sai lắp ghép có độ dôi của ren bảo đảm khả năng tự hãm chặt chẽ dưới tải trọng rung động cao trong động cơ và tua-bin. Đối với then bằng và then bán nguyệt, dung sai chiều rộng then và rãnh then trên trục, mo-ay-ơ quyết định độ đồng tâm của cụm chi tiết quay. Việc tuân thủ dung sai tiêu chuẩn giúp việc thay thế các chi tiết tiêu chuẩn hóa này diễn ra nhanh chóng, tiết kiệm chi phí bảo trì.

4.2. Tầm quan trọng của kiểm chuẩn trong chuỗi sản xuất

Kiểm chuẩn đo lường định kỳ là mắt xích quyết định sự thành công của hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 trong các nhà máy cơ khí. Dụng cụ đo lường sau thời gian dài sử dụng thường xuất hiện độ mòn cơ học hoặc trôi điểm không do nhiệt độ. Hiệu chuẩn thiết bị bằng các căn mẫu chuẩn giúp duy trì độ chính xác của các phép đo kiểm trên chuyền sản xuất. Khi sai lệch kích thước được phát hiện sớm ở nguyên công đầu, phế phẩm được loại bỏ kịp thời trước khi chuyển sang nguyên công hoàn thiện đắt tiền. Sự kết hợp giữa dung sai tối ưu và quy trình kiểm chuẩn chặt chẽ giúp bảo vệ uy tín thương hiệu của doanh nghiệp chế tạo.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

18/08/2026
Giao trinh dung sai 2008 font time newroman

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 : KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ DUNG SAI LẮP GHÉP I. Tính đổi lẫn trong sản xuất cơ khí : 1. Bản chất của tính đổi lẫn : Như chúng ta đã biết, máy do nhiều bộ phận hợp thành, mỗi bộ phận do nhiều các chi tiết ghép lại với nhau. Trong việc chế tạo cũng như sửa chữa máy, con người mong muốn các chi tiết cùng loại có khả năng thay lắp cho nhau, có nghĩa là khi thay thế cho nhau không cần lựa chọn và sửa chữa gì thêm mà vẫn đảm bảo được yêu cầu kỹ thuật của mối ghép.

Tính chất đó của chi tiết gọi là tính lắp lẫn. Trong một loạt chi tiết cùng loại nếu các chi tiết đều có thể thay lắp được cho nhau thì loạt đó đạt tính lắp lẫn hoàn toàn. Nếu một số trong các chi tiết ấy không có tính lắp lẫn thì loạt đó chỉ đạt được tính lắp lẫn không hoàn toàn. Các chi tiết có tính lắp lẫn phải giống nhau hoặc chỉ được khác nhau trong một phạm vi cho phép, phạm vi đó gọi là dung sai.

Như vậy dung sai là yếu tố quyết định của tình lắp lẫn. Tuỳ theo dung sai qui định mà chi tiết đạt được tính lắp lẫn hoàn toàn hay tính lắp lẫn không hoàn toàn. Lắp lẫn hoàn toàn đòi hỏi chi tiết có độ chính xác cao do đó giá thành sản phẩm cũng cao, người ta thường dùng làm dự trữ. Lắp lẫn không hoàn toàn cho phép chế tạo với phạm vi dung sai lớn hơn, thường dùng với công việc lắp ghép trong nội bộ xưởng.

Ý nghĩa thực tiễn của lắp lẫn : Tính lắp lẫn của chi tiết có vai trò quan trọng trong chế tạo máy. Các chi tiết máy đạt được tính lắp lẫn đã được chế tạo làm dự trữ, cho nên mỗi khi chi tiết nào đó bị hỏng sẽ có ngay chi tiết cùng loại thay thế. Nhờ đó máy có thể làm việc được ngay, tận dụng được khả năng sản xuất của máy móc. Đối với sản xuất : nếu các chi tiết được thiết kế và chế tạo trên cơ sở của tính lắp lẫn tức là dung sai, kích thước được qui định rõ ràng thì các nhà máy có thể sản xuất được các chi tiết lắp lẫn với nhau.

Tạo điều kiện hợp tác hoá sản xuất giữa các xí nghiệp, dể dàng thực hiên hợp tác hoá và chuyên môn hoá sản xuất. Tạo điều kiện để áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Như vậy tính lắp lẫn của chi tiết có ý nghĩa rất lớn về kinh tế và kỹ thuật. Ở nước ta trong một điều kiện nhất định đã có những nhà máy chuyên môn hoá sản xuất như nhà máy chế tạo phụ tùng ôtô, diezen, nhà máy chế tạo dụng cụ cắt, chế tạo bánh răng, chế taọ những chi tiết có ren như bulông, đai ốc … Sản phẩm của các nhà máy đó thường tốt và rẻ hơn.

Kích thước, sai lệch và dung sai : 1. Kích thước danh nghĩa : Là kích thước cơ bản được xác định dựavào chức năng của chi tiết để tính toán, thiết kế sau đó chọn cho đúng với trị số gần nhất của kích thước có trong bảng tiêu chuẩn. Thí dụ : Khi tính toán ta xác định kích thước của chi tiết là 35,785 mm, đối chiếu với bảng tiêu chuẩn ta chọn 36 mm, kích thước 36 mm vừa chọn là kích thước danh nghĩa của chi tiết. Từ kích thước cơ bản này ta tính toán được độ sai lệch của chi tiết.

Kích thước danh nghĩa được ký hiệu :( D, d, l, … ) Hình 1-1 2. Kích thước thực : Kích thước thực là kích thước đo được trực tiếp trên chi tiết gia công bằng những dụng cụ đo và phương pháp đo chính xác nhất mà kỹ thuật đo có thể đạt được. Kích thước thực được ký hiệu như sau : - Kích thước thực của chi tiết trục : dt - Kích thước thực của chi tiết lỗ : Dt Khi gia công kích thứơc thực không thể đạt hoàn toàn đúng như kích thước danh nghĩa, độ sai của kích thứơc thực so với kích thước danh nghĩa phụ thụôc vào nhiều yếu tố : Độ chính xác của máy, dao, dụng cụ gá lắp, dụng cụ đo kiểm, trình độ tay nghề của người thợ. Trong thực tế cũng không đòi hỏi kích thước thực phải hoàn toàn đúng như kích thước danh nghĩa, độ sai cho phép của kích thước thực so sánh với kích thước danh nghĩa phụ thụôc vào mức độ chính xác yêu cầu và tính chất lắp ghép của các chi tiết.

Kích thước giới hạn : Khi gia công bất kỳ một kích thước nào đó của chi tiết ta cần phải qui định một phạm vi cho phép của sai số chế tạo của kích thước đó. Phạm vi cho phép ấy được giới hạn bởi hai kích thước qui định gọi là kích thước giới hạn ( ktgh). Vậy kích thước giới hạn là hai kích thước lớn nhất và nhỏ nhất cho phép mà kích thước thực của chi tiết đạt yêu cầu nằm trong phạm vi đó. a) Kích thước giới hạn trên : là kích thước lớn nhất trong hai kích thước.

- Kích thước giới hạn trên của lỗ : Dmax Trang 2 - Kích thứơc giới hạn trên của trục : dmax b) Kích thước giới hạn dưới : là kích thước nhỏ nhất trong hai kích thước. - Kích thước giới hạn dưới của lỗ : Dmin - Kích thước giới hạn dưới của trục : dmin Như vậy chi tiết đạt yêu cầu khi nó thoả mãn điều kiện sau : - Đối với trục : dmax ≥ dt ≥ d min - Đối với lổ : Dmax ≥ Dt ≥ D min Hình 1-2 4. Sai lệch giới hạn : Sai lệch giới hạn là hiệu đại số giữa kích thước giới hạn và kích thước danh nghĩa. a) Sai lệch giới hạn trên : là hiệu đại số giữa kích thươc giới hạn trên và kích thước danh nghĩa.

Đối với lỗ : ES = Dmax - D  Dmax = ES + D Đối với trục : es = dmax - d  dmax = es + d b) Sai lệch giới hạn dưới : là hiệu đại số giữa kích thước giới hạn dưới và kíchthước danh nghĩa. Đối với lỗ : EI = Dmin - D  Dmin = EI + D Đối với trục : ei = dmin - d  dmin = ei + d Tuỳ theo tính chất của mối ghép yêu cầu mà kích thước giới hạn có những giá trị khác nhau. Do đó sai lệch giới hạn có thể có giá trị dương, âm hoặc = 0. Hình 1-3 Đường không là đường biểu diễn sai lệch của kích thước bằng không, do đó cũng là đường biểu diễn kích thước danh nghĩa.

Dung sai : Khi gia công kích thước thực được phép sai khác với kích thước danh nghĩa trong phạm vi giữa 2 kích thước giới hạn. Phạm vi sai số cho phép đó của chi tiết gọi là dung sai. Vậy dung sai của kích thước là hiệu số giữa kích thước giới hạn lớn nhất và nhỏ nhất hoặc bằng trị số tuyệt đối của hiệu đại số giữa các sai lệch trên và sai lệch dưới. Công thức tính dung sai của kích thước : - Đối với lỗ : TD = Dmax - Dmin = / ES - EI / - Đối với trục : td = dmax - dmin = / es - ei / Dung sai luôn có giá trị dương và nó biểu hiện phạm vi cho phép của sai số Dung sai được xem là loại sai số qui định cho gia công cần được dự kiến trước và ghi trong bản vẽ.

Cho nên dung sai của kích thước có ảnh hưởng nhất định đến giá thành sản phẩm. Nếu trị số dung sai nhỏ thì kích thước thực càng chính xác, do đó việc lắp ghép các mối ghép khác nhau của máy sẽ chính xác, cho nên độ tin cậy, công suất, tuổi thọ của máy tăng lên. Tuy nhiên dung sai cho gia công càng nhỏ thì quá trình gia công và kiểm tra chi tiết càng phức tạp, cần phải có thiết bị gia công và dụng cụ đo chính xác, đắt tiền do đó giá thành sản phẩm sẽ cao. Ngược lại, nếu dung sai cho gia công càng lớn, sẽ làm cho kích thước thực dao động lớn, kém chính xác, chất lượng lắp ghép máy kém cho nên độ tin cậy và tuổi thọ của máy giảm.

Tuy nhiên quá trình gia công trường hợp này dễ dàng, không cần thiết bị gia công và dụng cụ đo chính xác … vì vậy giá thành giảm.Quan hệ giữa trị số dung sai và chi phí gia công ( giá thành sản phẩm ) biểu thị như hình vẽ ( H1-4). Tóm lại người thiết kế cần tính đến quan hệ giữa giá thành gia công và dung sai khi chọn dung sai để gia công. Ví dụ : Gia công chi tiết trục có d = 50 mm biết d max = 50,055 mm, dmin = 49,985 mm .Tính trị số sai lệch es, ei và td của trục ? Và khi ghi trên bản vẽ sẽ ghi như thế nào ? Giải Áp dụng các công thức tính sai lệch và dung sai es = dmax - d = 50,055 - 50 = 0,055 mm Trang 4 ei = dmin - d = 49,985 - 50 = - 0,015 mm td = es - ei = 0,005 - (- 0,015 ) = 0,070 mm Bản vẽ sẽ ghi : 50 Trường hợp tổng quát : D , d 6. Miền dung sai Miền dung sai là miền đưỡc giới hạn bởi sai lệch trên và sai lệch dưới và được xác định bởi trị số dung sai và vị trí của nó so với kích thước danh nghĩa.

Khi biểu diễn trên sớ đồ miền dung sai được giới hạn bởi 2 đường tương ứng với sai lệch trên và sai lệch dưới so với đường không. Ví dụ :Biểu diễn miền dung sai của chi tiết trục và chi tiết lỗ sau : (µm) Trục d = 40 Lổ D = 40 Đổi sai lệch giới hạn ra micromét Trục : es = + 0,03 mm = + 30 µm ei = + 0,01 mm = + 10 µm Lỗ : ES = - 0,005 mm = - 5 µm Hình 1 – 5a EI = - 0,035 mm = - 35 µm Biểu diễn sai lệch trên và sai lệch dưới của lỗ, trục lên sơ đồ ta được miền dung sai của lỗ và miền dung sai của trục. Sai lệch cơ bản: Là một trong 2 loại sai lệch trên hoặc dưới dùng để xác định vị trí của miền dung sai của chi tiết so với đường không.Trong hệ thống dung sai đo lường quốc tế qui định sai lệch gần với đường không là sai lệch cơ bản .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ