đặt vấn đề nghiêm chỉnh về mặt đạo đức trong khoa học. Sự can thiệp thô bạo của con người vào tự nhiên, huỷ hoại những tiêu chuẩn đạo đức của nhân loại với ý dé làm sống dậy thuyết ưu sinh (eugenis) để hoàn thiện các chủng tộc thượng đẳng, một quan niệm đã bị nhân loại lên án. Và, điều dễ hiểu là khoảng hơn 20 nước trên thé giới đã ban hành luật cắm ie cố sử dụng phương pháp cloning trên người. Còn có thể kể nhiều mặt trái của tiền bộ khoa học công nghệ.
Điều này có thé coi là thách thức đối với nền giáo dục của bất kể nước nào trên thế giới. 97 Như ta biết, sự tiến bộ của khoa hoc — công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin (CNTT) làm xuất hiện nền kinh tế tri thức (KTTT). KTTT là nền kinh tế trong đó trì thức đóng vai trò then chốt đối với sự phát triển kinh tế — xã hội loài người. Đây là định nghĩa vào năm 1996 của OECD - Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development).
Nén KTTT cé dac điểm gì? Có thê kê văn tắt: ~ Tri thức trở thành động lực quyết định sự phát triển; ~ Hàm lượng chất xám trong các sản phẩm ngày càng cao, trong the ki XX], người ta ước lượng hàm lượng này lên đên 90% dung lượng một sản pham; — Công nghệ đổi mới rất nhanh, vòng đời công nghệ rút ngắn; ~ Giữa sản xuất và tiêu dùng có mối quan hệ chặt chẽ; ~ Thông tin trở thành nguồn tài nguyên quan trọng nhất trong mọi hoạt động kinh tê — xã hội. Và, không như sản xuât dựa vào tài nguyên, KTTT dựa vào tri thức sẽ làm cho tri thức ngày càng phát triên, không bao giờ cạn kiệt; ~ Quan hệ giữa các doanh nghiệp vừa là cạnh tranh, vừa là hợp tác; — Một nền kinh tế mở mang tính toàn cầu đang hình thành; - Một xã hội học tập đang hình thành, học và lao động nhập làm một, do đó học suốt đời trở thành nhân tố khăng định sự tồn tại va phát triển của cá nhân. Trên đây là bối cảnh phát triển khoa học — công nghệ. Còn giáo dục? Có thể nói chưa bao giờ giáo dục được thế giới quan tâm như ngày nay.
UNESCO đã khuyến cáo 2l điểm của nền giáo dục đi vào thế kỉ XXI ' UNESCO cũng khuyên cáo 7 vân đề giáo dục cân giải quyết khi bước vào thê ki XXI. Đó là: ~ Quan hệ toàn cầu ~ địa phương. ~ Quan hệ toàn cầu - cá thể. — Quan hệ truyền thông — hiện đại.
— Quan hệ lâu dài — trước mắt, — Quan hệ cạnh tranh — bình đăng. ~ Quan hệ kiến thức ngày càng tăng - khả năng tiếp thu của con người. — Quan hệ tinh than — vat chat. ! Phạm Minh Hạc (1999), Giáo đục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kí XXI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, trang 274.
98 Người ta đã nghiên cứu các xu thé giáo dục thế giới. Có thể kể van tat bay xu thế giáo dục lớn sau đây của thế giới: — Xu thế thứ nhất: Giáo dục thế giới mang tính đại chúng mạnh mẽ. Sự bùng nỗ về sĩ số học sinh: nếu năm 1950 khoảng 300 triệu học sinh (hơn một nửa thuộc các nước phát triển), thì ngày nay, số học sinh đã xấp xỉ 1 tỉ (3/ 4 thuộc các nước đang phát triển). Phổ cập giáo dục đang diễn ra ở nhiều nước.
Giữa thập kỉ 50 của thế ki trước, làn sóng dâng tới đỉnh cao ở giáo dục trung học với cơ cấu thống nhất (đã tạo ra trường trung học thống nhất), đến thập ki 70, 80 đỉnh cao này chuyển sang giáo dục sau trung học và giáo dục đại học. Điều này thể hiện ở xu hướng phổ cập đang diễn ra ở nhiều nước (một số nước đã thực hiện phô cập đại học, ví dụ Mĩ, Canađa,. = i Giáo dục cho mọi người (EFA: Education For All) đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia. UNESCO đã tô chức nhiều Hội nghị quốc tế 4 bàn về giáo dục: năm 1990 tại Jomtien (Thái Lan) đã diễn ra Hội nghị về “Giáo dục cho mọi người”; năm 1996 tại Amman (Jordanie) Hội nghị tuyên bố: “Giáo dục cho mọi người: một mục tiêu trong tầm tay chúng ta”; tháng 4 năm 2000, tại TES Dakar (Sénégal) Hội nghị kêu gọi “cần thiết và có thể đáp ứng nhu cầu giáo dục cơ bản cho mọi người”.
TOO — Xu thế thứ hai: Giáo dục thế kì XXI là một nền giáo dục suốt đời. 776) ON tse OL ee a oie aoe Xu thế xây dựng xã hội học tập được xem như một chiến lược nhằm không chỉ xây dựng giáo dục, mà còn là nhân tố nhằm phát triển kinh tế — xã hội. Năm 1970, Tổng Giám đốc UNESCO lúc đó là René Maheu đã thành lập Hội đồng quốc tế về phát triển giáo dục do Edgar Faure đứng đầu. Năm 1972, Hội đồng đã đưa ra báo oe “Học để làm người” với hai quan niệm định hướng: ˆ “giáo dục thường xuyên” và “xã hội học tập”.
Năm 1996, Jacques Delors tiếp tục ý tưởng của Edgar Faure da trinh UNESCO báo cáo nhan đề “Học tập: một kho báu tiềm ân” lại tiếp tục khang định: “Mọi người được học, học thường xuyên, học suốt đời”, hướng vào xã hội học tập, ở đó mọi sự đều là cơ hội để học và để phát triển năng lực của con người. Hội nghị Bộ trưởng giáo dục các nước G8 ở Tokyo (Nhật Bản) đầu tháng 4 năm 2000 đã nhận định: trong bối cảnh nay, học tập suốt đời trở thành ưu tiên cao cho mọi người. Dựa trên bốn trụ cột: học dé biết, hoc dé lam, hoc dé cùng chung sống và học để tự khẳng định, việc học suốt đời cung cấp một dịp tốt để mọi người thực hiện đầy đủ tính công dân trong xã hội tri thức. Học tập suốt đời là điều rất cơ bản cho sự phát triển của một nước: nó xây dựng cơ SỞ cho sự phát triển kinh tế và xã hội, nó phát triển năng lực của con người để cống hiến và để hưởng thụ từ sự phát triển đó, nó duy trì và làm giàu văn hoá của cá nhân, của mọi 99 ˆ người trong một quốc gia, nó xây dựng sự tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau, xuyên qua mọi sự khác biệt văn hoá.
~— Xu thế thứ ba: Giáo dục là sự nghiệp hàng đầu của mỗi quốc gia, mở rộng mạnh mẽ xã hội hoá giáo dục, thu hẹp bất bình đăng về giáo dục. Với quan điểm: “con người đứng ¢ở trung tâm của sự phát triển” do UNESCO đưa ra vào giữa thập kỉ 70 của thế kỉ trước, giáo dục đã được thừa nhận là nhân tố hàng đầu làm cho con người thực hiện được vai trò đó. Hiện nay thế giới đang chuyên từ một xã hội công nghiệp hoá theo kiểu truyền thống sang một xã hội kiến thức đang xuất hiện và nổi trội lên, mệnh đề này chuyền thành: “con người được giáo dục tốt và biết tự giáo dục vừa là mục đích, vừa là tác nhân của sự phát triển”. Xu hướng chuyên mạnh từ giáo dục tỉnh hoa sang giáo dục đại chúng khiến sĩ số bùng nỗ, tạo nên sức ép và gánh nặng tài chính lớn lao đối với chính phủ, nhất là ở các nước đang phát triển.
Xã hội hoá giáo dục hay thực chất là huy động xã hội tham gia xây dựng giáo dục là con đường có hiệu quả để phát triển giáo dục. Sự bất bình đẳng về giáo dục vẫn còn nhiều tồn tại đáng kể. Trên bình diện quốc gia cũng như quốc tế, vẫn còn một bộ phận đáng kể của loài người không được hưởng giáo dục: năm 1990 hàng trăm triệu trẻ em không được đi học, một tỉ người mù chữ là những đối tượng của Hội nghị Jomtien (Thái Lan) năm 1990 về “Giáo dục cho mọi người”. — Xu thế thứ tư: Chất lượng mới của giáo dục hướng vào “phát triển người”, “phát triển nguồn nhân lực” hình thành những năng lực cơ bản mà thời đại mới đòi hỏi.
Những năm 60 của thế kỉ trước người ta nhắn mạnh đến mục đích kinh tế của giáo dục. Liên hiệp quốc. đã thừa nhận Sự giúp đỡ giáo dục vì coi đây là nhân tố quan trọng của sự phát triển kinh tế. Nhưng, bắt đầu từ những năm 80, khủng hoảng kinh tế nỗ ra.
Lúc này người ta mới ý thức được tầm quan trọng của chất lượng của sự phát triển. Cách tiếp cận này không chỉ dưới khía cạnh của sự phát triển kinh tế, mà là một quá trình có tính tổng thể hơn: quá trình cải thiện mức sống, quá trình phục vụ “sự phát triển người” theo cách nói của UNDP (Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc). Trong thời đại văn minh trí tuệ, trong khi chúng ta đang đi vào xã hội thông tin, xã hội tri thức thì khuynh hướng nâng cao giá trị con người trong sự phát triển ngày càng phải được đặc biệt chú ý. Sự toàn cầu hoá đã bỗ sung thêm một tiêu chí đánh giá chính sách giáo dục.
Bên cạnh sử dân chủ hoá, ngày nay chính những lí do đạo đức và kinh tế đã dẫn : Ngày 02 tháng 7 năm 2003, Chính phủ ta đã phê duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia gido duc cho moi nguci 2003— 2015”. 100 đến sự đòi hỏi một trình độ cao về văn hoá cho mọi người. Từ những năm 90 của ị thế ki trước, người ta đã thực hiện. một sự cân bằng mới trong chương trình giáo - dục, coi đó là đáp số cho những vấn đề lớn mang tính toàn cầu: hoà bình, quyền con người, chỗng bất bình đăng giữa các quốc gia cũng như trong từng quốc gia, Sự gia tăng dân số và chất lượng dân sô, bảo vệ môi trường.
Trong thé ki XXI, xã hội tri thức vừa tạo ra nhiều cơ hội, vừa xuất hiện nhiều nguy cơ thực. Điều này đòi hỏi những thay đổi căn bản về cách dạy cách học, về cung cấp nội dung và cấu trúc học tập, về cách đánh giá mới nhằm thoả mãn nhu cầu trí tuệ, tình cảm và xã hội của người học. Những cá nhân nào duy trì và phát triển được trình độ kĩ năng, thì họ có thể đạt được nhiều thành công lớn về kinh tế và xã hội. Ngược lại, những ai không đạt được điều này thì họ đứng trước nguy cơ bị day ra ngoài lề với hi vọng mỏng manh tìm được việc làm qua ngày.