CHUONG IX LIEN MINH GIUA CONG NHAN VOI NONG DAN VÀ TRÍ THỨC TRONG THỜI KÝ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Lý luận về liên minh công nông và các tầng lớp lao động khác là một trong những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin đã được Hỗ Chí Minh và Đang Cộng sản Việt Nam vận dụng đúng dan, sang tao vào Việt Nam, đã góp phần to lớn tạo nên thắng lợi hoàn toàn của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dan va những thành quả rất quan trọng trong bước đầu xâv dựng chủ nghĩa xã hội. Hiện nay, Việt Nam đang tiến hành công cuộc đỏi mới, đấy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá. hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đương nhiên, việc nhận thức và tổ chức thực hiện liên minh không thể không dựa trên những vân đề lý luận và thực tiễn về cơ cấu xã hội giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Lênin đã chỉ rõ: Kết cấu xã hội và chính quyền có nhiều biến đôi. nếu không tìm hiểu những biến đổi này thì không thể tiến được một bước trong bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào. CO CẤU XÃ HỘI - GIAI CẤP TRONG THỜI KỶ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Cơ cấu xã hội - gia: cấp là hệ thống các giai cap va táng lớp xã hội tôn tại khách quan, hoạt động hợp pháp trong một chế độ xã hội nhất định, chủ yếu là thông qua những mối quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất, về quan lý. về phân phôi, về địa vị chính trị - xã hội.
giữa các giai cấp và tầng lớp đó. Xu hướng chung của sự biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp trong thời kỹ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Quá trình biến động của cơ cấu xã hội nói chung diễn ra theo bốn xu hướng chủ yếu sau đây: - Sự xích lại gần nhau từng bước gìữa các giai tầng xã hội trong quan hệ với tư liệu sản xuất trên nền tảng sở hữu toàn dân về các tư liệu sản xuất chủ yếu. Xu hướng này thể hiện thông qua việc dần dần hoàn thiện quan hệ sân xuất xã hội chủ nghìa với trình độ từ thấp đến cao. Chú trương của Đang Cộng sản Việt Nam về phát triển nhiều thành phần kinh tế, đa dạng hoá chế độ sở hữu đã tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế đều được bảo đảm sự tồn tai cua mình; cùng hiên kết, liên doanh trong sản xuất kinh doanh; các thành phần trong cơ cấu xã hội hợp pháp tồn tại bên nhau, xích lại gần nhau, đan xen lẫn nhau để cùng phát triển.
280 - Sự xích lại gần nhau về tính chất lao động. Xu hướng này thể hiện thông qua đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. áp dụng phững thành tựu mới vào quá trình phát triền lực lượng sản xuât. Cũng từ đó, xu hướng "quốc tế hoá" ngày càng thể hiện rõ nét thông qua việc giao lưu kinh tế và mở rộng quan hệ kinh tế đôi ngoại.
- Sự xích lại gần nhau trong quan hệ phân phối tư liệu tiêu dùng. Xu hướng này diễn ra chủ yếu liên quan đến việc thực hiện ngày càng hoàn thiện nguyên tắc phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế. - Sự xích lại gần nhau trong tiến bộ về đời sống tỉnh thần. Xu hướng này thể hiện trực tiếp thông qua cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trên linh vực tư tưởng và văn hoá.
Xu hướng này tác động trực tiếp đến sự xích lại gần nhau và xoá bỏ dần dân mâu thuẫn giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay. Trong thực tế, những xu hướng trên đây không tách rời nhau. Các khuynh hướng đó thể hiện không đồng đều về nhịp độ giữa các giai đoạn khác nhau và ở những vùng khác nhau, nhưng đó là những biểu hiện chung mang tính quy luật của sự biến đối cơ cấu xã hội trong điều kiện Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo xã hội. Trong thời kỳ qua độ lên chủ nghĩa xã hội, các xu hướng biến đổi trên đã thể hiện trên các lĩnh vực 281 chính trị, phát triển lực lượng sản xuất.
hoàn thiện quan hệ sản xuất, nâng cao đời sông vật chât và tình thần của toàn xã hội. Tính quy luật của sự biến động cơ cấu xA hội - giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Cơ cấu xã hội - giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội luôn luôn ở trạng thái không ngừng biển động. Sự biến động này tuy thuộc: vào tình hình kình tế, chính trị, xã hội và mỗi quan hệ quốc tế. Những văn đề có tính quy luật của sự biến động cơ cấu xã hội - g1a1 cấp như sau: - Sự biến động của cơ cấu xã hội - giai cấp gắn liền và được quy định trực tiếp nhất bởi sự biên động của cơ cấu kinh tế ngành, nghề; của cơ cấu các thành phần kinh tế: của cơ chế hành chính.
kình tế - xã hội. Trong thời kỳ quá độ, nền kinh tế nhiều thành phần tất yếu đưa tới một cơ cấu xã hội - giai cấp đa dạng và phức tạp, vì nhân tế kinh tế luôn luôn có vai trò quyết định đối với các vấn đề xã hội. Mặt khác, sự phát triển của các nhân tố xã hội luôn luôn đan xen lẫn nhau, anh hưởng và tác động lẫn nhau, Cø cău xã hội mới đã hình thành lại có tác động tới sự củng cố và phát triển cơ cấu kinh tế, tạo cho nó đi đúng phương hướng xây dựng một phương thức kình tế xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu xã hội - giai cấp phát triển trong mối quan 282 hệ biện chứng của các nhân tð khách quan và chu quan.
Đảng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa với tính cách la những nhân tố chủ quan mạnh nhất, tác động chi phối đến sự biến động của cơ câu xã hội - giai cấp, phát triển theo tính chất xã hội chủ nghĩa thông qua các chính sách kinh tế - xã hội phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội và lịch sử-chính tri khách quan của đất nước. - Quá trình biến đổi cơ cấu xã hội - giai cAp cũ sang cơ cấu xã hội - gia1 cấp mới là một quá trình liên tục trong suôt thai ky qua dé. Quá trình biến đôi này càng đa dạng, nhức tạp ở giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ khi sản xuất bung ra, nhiều thành phần kinh tế ra đời để làm sống động nền kinh tế nhưng sẽ đản dan ổn định ở giai đoạn sau khi nền kinh tế đã ổn định. lực lượng sản xuất đã phát triển và quá trình công nghiệp hoá.
hiện đại hoá triên khai có kết qua. - Co cAu xã hội - giai cấp biến động và phát triển trong mối quan hệ vừa có mâu thuẫn, vừa liên minh. tiến tới từng bước xoá bỏ hiện tượng bất bình đăng trong xà hội sẽ đưa đến sự xích lại gần nhau giừa các giai cấp, tảng lớp cơ bản trong xã hội, đặc biệt la giữa công. nông và trí thức.
Mức độ của quá trình này tuỳ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn cua thời kỷ quá độ. Song, vừa mâu thuẫn, vừa liên minh, vừa phát triển tính đa dạng và tính độc lập tương đối của các giai tầng xã 283 hội, vừa hợp tác và xícb lại gần nhau giữa các giai tầng sẽ diễn ra việc hoà nhập, chuyến đổi bộ phận giữa các nhóm xã hội, từ chỗ không còn cả chế độ áp bức bóc lột đến chỗ không còn cả những guan hệ bóc lột giữa người vớt người. Đó là xu hướng tất yếu, là biện chứng của sự vận động, phát triển cơ cấu xã hội - giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. - Xu hướng phát triển của cơ cấu xã hội - giai cấp của nước ta phan ánh tính đa dạng và tính thống nhất của cơ cấu xã hội Việt Nam trong thời kỷ quá độ lên chủ ngha xã hội.
Tính đa dạng thể hiện không những ở sự tốn tại của các giai cấp. các nhóm xã hội khác nhau trong điều kiện kinh tế nhiều thành phần mà còn thể hiện ca trong kết cấu đa dạng của từng giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội đã nêu trên. Tính thông nhất xã hội thể hiện thông qua xu hướng phát triển về số lượng, chất lượng và cơ cấu của giai cấp công nhân - lực lượng tiêu biểu cho phương thức sản xuất mới, giữ vai trò chủ đạo trong quá trình cải biên xã hột. Tính thống nhất ấy còn thể hiện thông qua sự liên mừnh công nhân, nông dân, trí thức - nên tang chính trị - xã hội của xã hội nước ta trong thời kỳ quá độ, thông qua nhiệm vụ chung cố tính chất chiến lược của các cộng đồng xã hội ở nước ta là sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tô quốc Việt Nam xã hội chu nghia.
Khi nghiên cứu vẻ sứ mệnh lịch sử của giai cấp 284 công nhân, chúng ta đã nhận thức được những đặc điểm cơ bản và vai trò của giai cấp công nhân. Ở đây chỉ phân tích về nông dân và trí thức. Về giai cấp nông dan: Là giai cấp của những người Ìao động sản xuất vật chất trong nông nghiệp, lâm nghiệp., trực tiếp sử dụng (canh tác) một tư liệu san xuất cơ bản và đặc thù, gắn với thiên nhiên là đất, rừng, biển để sản xuất ra nông sản. Nông dân uốn có phương thức sản xuất phân tan, kỹ thuật lạc hậu, năng suất lao động thấp.
Nông dân có "bản chất hai mặt" - theo sự phân tích khoa học của V. Lânmn: Một mãi, họ là những người lao động. Đây là mặt cơ bản nhất. Mặt khác, họ là những người tư hữu nhỏ.
Đây là mặt hạn chế và phải trải qua một quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và cải biến cách mạng trên nhiều lĩnh vực. mới có thể khắc phục được. Tuy vậy, mặt tư hữu nhô của nông dân khác với ban chất tư hữu của các gial cấp bóc lột. nông dân không dựa trên tư hữu nhỏ để bóc lột các giai cấp và tảng lớp xã hội.
Gia1 cấp nông dân không có hệ tư tưởng riêng, mà tư tưởng của họ phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp nào thống trị xã hội. Vì vậy, khi chưa giác ngộ cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo thì nông dân dễ dao động về tư tưởng. dễ bị ngộ nhận về chính 285 trị và manh động trong các cuộc đấu tranh tự phát. Giai cấp nông dân vốn có cơ cấu không thuần nhất.