Chương 1: Tổng quan rất tốt và sử dụng SpyBot Search and Destroy với nhiều tính năng nổi trội và đặc biệt vô cùng hiệu quả trong việc phát hiện và tiêu diệt những phần mềm spyware, adware và malware. Kiểm tra toàn bộ hệ thống thường xuyên theo định kỳ: Công đoạn này rất quan trọng vì nó ảnh hưởng rất nhiều đến sự ổn định của hệ thống, chỉ với những thao tác đơn giản như xóa bộ nhớ đệm, cookies của trình duyệt, history làm việc, các thư mục temp trong Windows. điển hình và dễ sử dụng nhất là CCleaner của Piriform Nâng cao ý thức và trách nhiệm phòng chống tội phạm công nghệ cao; cần cẩn trọng trong việc cung cấp thông tin cá nhân, mật khẩu hoặc số OTP khi thực hiện các giao dịch thanh toán hoặc thực hiện bất kỳ yêu cầu thay đổi thông tin trên mạng xã hội, forum, website, email, điện thoại.Đặc biệt, sử dụng các phần mềm có bản quyền; sử dụng mật khẩu có tính bảo mật cao và thường xuyên thay đổi mật khẩu; cài đặt và sử dụng các phần mềm bảo vệ (diệt vi rút) hoặc thiết lập tường lửa (firewall). CÂU HỎI Câu 1.
Nêu các mục tiêu của an toàn thông tin. Nêu các hình thức tấn công, cho ví dụ. Nêu các phương pháp ngăn chặn và khắc phục tấn công KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Trang 8 Chương 2: Các loại bảo mật và cách phòng chống CHƯƠNG 2: CÁC LOẠI BẢO MẬT VÀ CÁCH PHÒNG CHỐNG Giới thiệu: Trong Chương 2 sẽ trình bày bảo mật máy tính ở cấp độ chương trình, bảo mật máy tính ở cấp độ hệ điều hành, bảo mật web, bảo mật mạng, cách phòng chống. Mục tiêu: Trình bày được phương pháp bảo mật máy tính ở cấp độ chương trình, cấp độ hệ điều hành, cấp độ web, cấp độ mạng.
Phân biệt được các loại virus và cách phòng chống. Bảo mật máy tính ở cấp độ chương trình 1. Sử dụng tường lửa (Firewall) Tường lửa thường là phần mềm hệ thống được đính kèm sẵn theo mỗi phiên bản Windows, nó có tác dụng như một biên giới giúp ngăn chặn, hoặc chọn lọc những kẻ xâm nhập không mong muốn trên Internet vào máy tính cá nhân của người khác. Nhưng đôi khi bức tường này tỏ ra không hiệu quả và dễ dàng bị qua mặt, việc sử dụng phần mềm bên thứ 3 là giải pháp hữu hiệu để khắc phục vấn đề này.
Tuy nhiên đừng quá tin tưởng vào Firewall, đây chỉ là một mẹo rất nhỏ trong công cuộc bảo vệ chiếc máy tính của bạn. Khái niệm virus máy tính Virus máy tính là đoạn mã thực thi ghép vào chương trình chủ và giành quyền điều khiển khi chương trình chủ thực thi. Virus được thiết kế nhằm nhân bản, tránh né sự phát hiện, phá hỏng/thay đổi dữ liệu, hiển thị thông điệp hoặc làm cho hệ điều hành hoạt động sai lệch. Hoạt động của virus Các pha: - Không hoạt động - chờ đợi sự kiện kích hoạt - Lan truyền - sao chép mình tới chương trình/đĩa - Kích hoạt – theo sự kiện để thực thi payload - Thực thi – theo payload - Chi tiết phụ thuộc các máy/HĐH cụ thể - Khai thác các đặc trưng/điểm yếu KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Trang 9 Chương 2: Các loại bảo mật và cách phòng chống 1.
Cấu trúc của virus program V := {goto main; 1234567; subroutine infect-executable := {loop: file := get-random-executable-file; if (first-line-of-file = 1234567) then goto loop else prepend V to file; } subroutine do-damage := {whatever damage is to be done} subroutine trigger-pulled := {return true if some condition holds} main: main-program := {infect-executable; if trigger-pulled then do-damage; goto next;} next: } 1. Các loại virus Có thể phân loại theo cách tấn công của chúng - Virus ký sinh: loại virus ký sinh vào các tập tin thi hành (com, exe, pif, scr, dll.) trên hệ thống đích. Ứng dụng chủ (host application) có thể bị nhiễm virus vào đầu file, giữa file hoặc cuối file. Khi hệ thống thi hành một ứng dụng chủ nhiễm: Pay-load nắm quyền sử dụng CPU; Vir-code thực thi các thủ tục phá hoại, sử dụng dữ liệu trong Vir-data; Trả quyền sử dụng CPU cho ứng dụng chủ.
- Virus boot sector: Boot-virus: loại virus nhiễm vào mẫu tin khởi động (boot record - 512 byte) của tổ chức đĩa; Multi-partite: loại virus tổ hợp tính năng của virus ký sinh và boot virus, nhiễm cả file lẫn boot sector. - Virus macro: Đính vào các tập tin dữ liệu có sử dụng macro, data virus tự động thực hiện khi tập dữ liệu nhiễm được mở bởi ứng dụng chủ. Các data virus quen thuộc: + Microsoft Word Document: doc macro virus + Microsoft Excel Worksheet: xls macro virus + Microsoft Power Point: ppt macro virus KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Trang 10 Chương 2: Các loại bảo mật và cách phòng chống + Adobe Reader: pdf script virus + Visual Basic: vb script virus + Java: java script virus + Startup file: bat virus,… Email virus: Lây lan bằng cách sử dụng email với tập tin đính kèm có chứa một virus macro (Ví dụ Melissa); Kích hoạt khi người dùng mở tập tin đính kèm hoặc tệ hơn, ngay cả khi thư xem bằng cách sử dụng tính năng kịch bản trong email agent; Thường nhắm vào Microsoft Outlook mail agent & các tài liệu Word/Excel.5 Sử dụng các phần mềm Antivirus Antivirus có rất nhiều ích lợi trong việc phát hiện, loại bỏ các loại virus cũng như khắc phục phần nào hậu quả do chúng gây ra. Tuy nhiên nhiều người lại phớt lờ và bỏ qua quá trình này, dẫn đến hậu quả là chiếc máy tính của họ thường xuyên xảy ra lỗi hệ thống hay nghiêm trọng hơn có thể làm lộ các thông tin cá nhân lên mạng Internet.
Vì vậy, mỗi người nên cài đặt và thường xuyên cập nhật các chương trình Antivirus để bảo vệ dữ liệu của mình. Hiện nay bên cạnh các phần mềm yêu cầu trả tiền, vẫn có rất nhiều chương trình mạnh mẽ nhưng miễn phí như Avast, Avira,… 1. Thường xuyên cập nhật phần mềm Bên trong mỗi hệ điều hành hay các phần mềm thường vẫn còn rất nhiều lỗi chưa được phát hiện, từ những lỗi đó hacker có thể dễ dàng xâm nhập và chiếm quyền điều khiển máy tính cá nhân. Vì thế, nên kiểm tra và update thường xuyên chương trình của mình lên phiên bản mới nhất, ngoài việc đảm bảo an toàn nó còn giúp phần mềm chạy trơn tru và mượt mà hơn.
Bảo mật máy tính ở cấp độ hệ điều hành 2. Các vấn đề bảo vệ trong Hệ điều hành Một hệ điều hành (OS) cung cấp các chỉ thị chương trình cơ bán để giao tiếp với phần cứng của máy tính. Hệ điều hành là một mã chương trình giúp người sử dụng bẳt đầu các chức năng cơ bản của một máy tính như: xem nội văn bàn trên màn hình của máy tính, lưu giữ thông tin, truy nhập và sửa đổi thông tin, truy nhập vào một mạng, kết nối Internet và chạy các phần mềm ứng dụng khác. Hệ điều hành thực hiện các chức năng quản lý vào/ra (I/O) cơ bản nhất của máy tính.
Quản lý vào/ra cho phép các chương trình giao tiếp với phần cứng của máy một cách dễ dàng. Đóng vai trò là một giao diện giữa các chương trình ứng dụng và phần cứng của máy, một hệ điều hành thực hiện các tác vụ sau: - Kiểm soát dừ liệu vào từ bàn phím, thiết bị chuột và mạng. KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Trang 11 Chương 2: Các loại bảo mật và cách phòng chống - Kiểm soát dừ liệu ra màn hình, máy in và mạng. - Cho phép truyền thông qua modem hoặc các công truyên thông khác.
- Kiểm soát vào/ra cho tất cả các thiết bị, kể cả cạc giao diện mạng. - Quản lý việc lưu trữ, tìm kiếm và phục hồi thông tin trên các thiết bị lưu trữ như các ổ đĩa cứng, các ổ đĩa CD-ROM. - Cho phép các chức năng đa phương tiện như chơi nhạc và truy cập các đoạn video clip. Tất cả các cấp độ hệ điều hành, hệ điều hành đều có khả năng đề cung cấp các chức năng an toàn.
Ví dụ, một hệ điều hành có thể cung cấp chức năng an toàn để quản lý việc truy nhập ổ đĩa cứng hoặc quản lý cách thức các chương trình phần mềm kiểm soát các chức năng phần cứng. Thông qua hệ điều hành, việc truy cập tới một máy tính hay một mạng có thể được kiểm soát bằng các khoản mục người dùng và mật khẩu. Một số hệ điều hành cỏ khả năng tự bảo vệ mã chương trình của chúng bằng cách chạy mă này trong một vùng an toàn mà chỉ có hệ điều hành đó được phép sử dụng. Một số hệ điều hành lại có khả năng tự bảo vệ bằng cách tự động tắt các phần mềm có lỗi hoặc phần mềm sai chức năng để ngăn không cho chúng can thiệp vào các phần mềm khác hoặc can thiệp vào phần cứng.
- Giao diện lập trình ứng dụng (API): là phần mềm trung gian giừa chương trình ứng dụng và nhân hệ điều hành (mã chương trình chính cùa hệ điều hành). API sẽ biên dịch các yêu cầu từ chương trình ứng dụng thành mã mà nhân hệ điều hành có thể hiểu được và chuyền xuống các trình điều khiển thiết bị phần cứng và ngược lại. Một chức năng khác của API là cung cấp một giao diện cho hệ thống vào/ra cơ bản (BIOS). - Hệ thống vào/ra cơ ban (BIOS): là một chương trình nhận dạng thiết bị phần cứng và thiết lập quá trình truyền thông cơ ban với các thành phần như màn hình và các ổ đĩa.
Ngoài ra, BIOS còn nạp các thành phần khác của hệ điều hành khi khởi động và duy trì một đồng hồ thời gian thực để cung cấp ngày giờ cho hệ thống. - Nhân hệ điều hành (Kernel): là phần lõi cùa hệ điều hành thực hiện phối họp các chức năng của hệ điều hành như: kiểm soát bộ nhớ và thiết bị lưu trữ. Nhân hệ điều hành sẽ giao tiếp với BIOS, các trình điều khiển thiết bị và API để thực hiện các chức năng này. Ngoài ra, nó còn là giao diện với các trình quản lý tài nguyên.
- Trình quản lý tài nguyên (Resource Manager): là các chuơng trình quản lý việc sử dụng bộ nhớ và vi xử lý trung tâm. - Trình điều khiên thiết bị (Device Driver): là các chuơng trình nhận các yêu cầu từ API thông qua nhân hệ điều hành rồi biên dịch chúng thành các lệnh thao tác với các thiết bị phần cứng tương ứng như: bàn phím, màn hình, ổ đĩa và máy in. Ngoài KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Trang 12 Chương 2: Các loại bảo mật và cách phòng chống ra, hệ điều hành còn có thêm các trình điều khiển chuyên dụng phục vụ các chức năng và các thiết bị khác như âm thanh. Trong các thành phần này, một dạng an toàn cơ bản nhất là cấu hình an toàn mật khẩu BIOS.