Chương 1: Nội dung tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Chương 2: Tầm quan trọng và thực trạng của việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Chương 3: Một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ theo tư tưởng Hồ Chí Minh tại Trường Đại học Ngoại thương. 8 Chƣơng 1 NỘI DUNG TƢ TƢỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH 1. Lý luận chung về đạo đức 1.
Khái niệm, nguồn gốc và bản chất của đạo đức 1. Khái niệm đạo đức Đạo đức là một phạm trù rất rộng nhưng lại rất cụ thể. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường nhắc đến cụm từ đạo đức trên mọi lĩnh vực: đạo đức gia đình, đạo đức xã hội, đạo đức kinh doanh, đạo đức nghề nghiệp,v. nói rộng ra là đạo đức của cả một dân tộc.
Tuy nhiên khi sử dụng cụm từ này, ít ai quan tâm đến nội hàm của khái niệm. Vậy đạo đức là gì? Với tư cách là bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức học đã xuất hiện cách đây hơn 20 thế kỷ trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp cổ đại. Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng La Tinh là mos (moris) - lề thói (moralis nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa). Trong tiếng Hy Lạp, đạo đức được xem như đồng nhất với “luân lý học” và được bắt nguồn từ chữ Êthicos, nghĩa là lề thói, tập tục.
Như vậy, khi ta nói đến đạo đức tức là nói đến những lề thói và tập tục biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày. Ở phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo của họ. Đạo là một trong những phạm trù quan trọng của triết học Trung Quốc cổ đại. Đạo có nghĩa là con đường, đường đi.
Về sau, đạo được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên. Đạo còn là con đường sống của con người trong xã hội. Khái niệm Đức lần đầu tiên xuất hiện trong Kim văn đời nhà Chu và từ đó trở đi nó được người Trung quốc cổ đại sử dụng nhiều. Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý.
Như vậy, có thể nói đạo đức của người Trung Quốc cổ 9 đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo. Ăngghen, các nhà triết học (kể cả duy tâm lẫn duy vật) đều rơi vào quan điểm duy tâm khi xem xét vấn đề xã hội và đạo đức. Họ không thấy được tính quy định của nhân tố kinh tế đối với sự vận động của xã hội nói chung và đạo đức nói riêng. Khác với các quan điểm trên, C.
Ăngghen đã chứng minh rằng, trước khi sáng lập các quan điểm tư tưởng, lý luận, con người đã hoạt động thực tiễn, tức là đã sản xuất ra các tư liệu vật chất cần thiết cho đời sống. Toàn bộ tư tưởng thể hiện trong các hình thái ý thức xã hội của một thời đại đều bắt nguồn từ điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội đó. Ý thức xã hội của con người là sự phản ánh tồn tại xã hội của họ. Các hình thái ý thức xã hội khác nhau phản ánh những mặt khác nhau của đời sống xã hội.
Đạo đức cũng vậy, nó là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội dưới dạng các nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực nhằm điều chỉnh hành vi của con người. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng ta có thể hiểu khái niệm đạo đức như sau: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh hành vi và đánh giá cách ứng xử của con người trong các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội. Như vậy, đạo đức không phải là cái có sẵn ở đâu đó, nó được hình thành từ khi có xã hội loài người và tồn tại vĩnh viễn cùng loài người. Tuy nhiên, hệ thống các nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực đạo đức lại có tính lịch sử vì với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức cũng phản ánh tồn tại xã hội, mà tồn tại xã hội lại không bất biến.
Hình thái ý thức xã hội đạo đức giúp con người điều chỉnh hành vi của mình, hướng con người tới cái tốt, cái thiện. Nguồn gốc và bản chất của đạo đức Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử, nó được mọi xã hội, mọi giai cấp, mọi thời đại quan tâm. Trong lịch sử, đã có nhiều cách giải thích khác nhau về nguồn gốc và bản chất của đạo đức. Tiêu biểu là một số quan điểm cơ bản sau đây: * Quan điểm của tôn giáo: Trong giáo lý của các tôn giáo như Phật giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo đều đề cập đến tính thiện.
Điều đó khiến một số nhà tôn giáo hoặc ngộ nhận, hoặc cố tình kết luận đạo đức có nguồn gốc từ tôn giáo và đạo đức mang bản chất tôn giáo. Họ cho rằng mọi ân đức đều do trời, do chúa, do thần thánh đem đến và ban phát cho loài người. Thiên chúa giáo cho rằng, Thượng đế là đấng tối cao có trách nhiệm ban phát phước lành và cứu rỗi cho loài người và mỗi người phải có bổn phận chấp hành mọi nghĩa vụ trước Thượng đế. Phật giáo thì cho rằng, có một thế giới thần tiên đối với con người, đó là cõi “niết bàn”.
Sai lầm của các quan điểm tôn giáo là đã đồng nhất đạo đức với tôn giáo. Thực ra, đạo đức và tôn giáo tuy cùng đề cập đến tính thiện, nhưng đạo đức khác về bản chất so với tôn giáo. Mỗi quan niệm đạo đức đều xuất phát từ đời sống hiện thực, đều có giá trị thực tiễn đối với đời sống con người. Còn tôn giáo là một thế giới do con người tưởng tượng ra, là thế giới của hư ảo.
* Quan điểm tự nhiên Những người theo quan điểm tự nhiên cho rằng nguồn gốc của đạo đức có từ bản năng động vật. Động vật cũng có hoạt động sinh con, nuôi con, cho con ăn, bảo vệ con. Loài vật sinh sống và quan hệ với nhau một cách tự nhiên. Xu hướng của loài vật là loài mạnh thắng loài yếu, vì chúng hành động theo tính bản năng của nó.
Do vậy có người cho rằng loài người cũng là một sinh vật nên không tránh khỏi xu hướng tự nhiên vốn có này. Từ đó họ kết luận, 11 chủ nghĩa cá nhân, đạo đức vị kỷ là bản chất vĩnh viễn của con người. Con người trước hết phải sống vì cái tôi, cho cái tôi. Quan niệm trên đây là sai lầm, các loại sinh vật chưa bao giờ ý thức được về nó.
Mọi hoạt động của loài vật hoàn toàn chỉ dựa vào tính bản năng. Điều này được C. Mác chỉ rõ: một người kiến trúc sư dù tồi nhất, vẫn hành động khác về chất so với những con ong khéo léo nhất. Do đó không thể lấy loài vật ra so sánh với loài người.
Bản chất nổi bật nhất của con người không phải ở bản chất tự nhiên. Cái tạo nên con người, làm cho con người khác loài vật, chính là từ bản chất xã hội. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những mối quan hệ xã hội. * Quan điểm xã hội Những người theo quan điểm xã hội cho rằng, cơ sở, nguồn gốc đạo đức là từ đời sống xã hội, nhưng khi giải thích về bản chất đạo đức họ lại gắn những suy nghĩ chủ quan nào đó.
Họ coi đạo đức như những quy ước chung, có tính chất chủ quan xã hội. Những chuẩn mực đạo đức hiện tồn tại trong xã hội là do chủ quan của con người đặt ra, thành những tôn ti trật tự xã hội. Mỗi người phải có nghĩa vụ, suy nghĩ và hành động theo những khuôn mẫu đó, nếu làm trái sẽ bị đánh giá là vô đạo đức. * Quan điểm của các học giả tư sản Các học giả tư sản cho rằng, bản chất của đạo đức mang tính vĩnh viễn, không thay đổi, đứng trên mọi giai cấp, có một thứ đạo đức chung cho tất cả loài người đó là đạo đức tư sản.
Có thể nói, tất cả các quan điểm trên đều chưa giải thích một cách đầy đủ và khoa học về nguồn gốc và bản chất của đạo đức. Họ không thấy được cơ sở cho đạo đức ra đời đó chính là hiện thực xã hội, họ xoá nhoà bản chất giai cấp của đạo đức. Những học thuyết đó đều nhằm bảo vệ cho lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội. * Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin 12 Khác với những quan điểm trên, chủ nghĩa Mác - Lênin đã giải thích một cách khoa học về nguồn gốc và bản chất của đạo đức.
Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng đạo đức là một hình thái ý thức xã hội xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử, nó mang tính lịch sử. Chính con người bằng hoạt động thực tiễn (mà trước hết là lao động sản xuất) và hoạt động xã hội, đồng thời qua kinh nghiệm lịch sử của mình đã xây dựng nên những chuẩn mực đạo đức nhằm điều chỉnh hành vi trong mối quan hệ giữa người và người, giữa cá nhân và cộng đồng xã hội Bản chất của đạo đức không phải là một cái gì có sẵn, hoặc tiên định. Nếu không có con người và xã hội loài người thì chẳng có đạo đức nào cả. Đạo đức phản ánh mối quan hệ giữa người và người về cái thiện và cái ác; tuy nhiên quan niệm về thiện, ác cũng có tính lịch sử.
Đạo đức là hiện tượng xã hội có tính người sâu sắc nhất. Nó có tính phổ biến và đa dạng vì nó có mặt trong tất cả các quan hệ xã hội và trong các lĩnh vực hoạt động của con người. Đạo đức bị chi phối bởi điều kiện kinh tế, xã hội và lịch sử. Mặt khác, đạo đức còn bao hàm cảm xúc, trách nhiệm của con người trước hoàn cảnh sống, trước đồng loại.
Do đó, đạo đức là sản phẩm tổng hợp của những yếu tố khách quan và những nhân tố chủ quan. Mặt khách quan là những hiện thực được phản ánh vào ý thức đạo đức. Mặt chủ quan là những nỗ lực vươn tới của của con người nhằm đạt tới những giá trị đạo đức đích thực.