phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết. 9 hƣơng 1 GIÁO DỤ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG O ĐẢNG VIÊN - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. Đạo đức và đạo đức cách mạng 1. Quan niệm về đạo đức ạo đức là một trong những quan hệ chủ yếu của đời sống xã hội và ý thức đạo đức là một hình thái giá trị tinh thần cơ bản của con người và xã hội.
Là yếu tố cốt lõi của tính cách con người, đạo đức đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội và đời sống của mỗi con người. Lịch sử hình thành và phát triển đạo đức gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người, đặc biệt là gắn liền với các phương thức sản xuất xã hội. Trong lịch sử phát triển tư tưởng nhân loại đã tồn tại nhiều kiểu đạo đức khác nhau phản ánh trình độ phát triển của xã hội qua các thời đại lịch sử. Xét về mặt lịch sử, mỗi kiểu đạo đức ra đời đều đánh dấu một nấc thang của sự tiến bộ đạo đức.
ạo đức tư sản ra đời là nấc thang cao nhất của tiến bộ đạo đức trong tiến trình lịch sử phát triển đạo đức của xã hội có giai cấp. Nó đã kiên quyết chống lại đạo đức phong kiến - tôn giáo, đồng thời nhiệt thành đề cao tự do cá nhân trong lĩnh vực đạo đức. Nhưng, với quan hệ tư hữu tư bản chủ nghĩa và quan hệ thị trường theo cơ chế bóc lột giá trị thặng dư, đạo đức tư sản và hệ tư tưởng luân lý của nó đã nhanh chóng bỏ rơi những lý tưởng đạo đức đích thực được nêu ra lúc ban đầu. Lịch sử và hiện trạng đạo đức tư sản đã và đang xác nhận: giữa lý luận luân lý tư sản và hiện thực đạo đức tư sản càng ngày càng cách xa nhau, trái ngược nhau.
Xét về mặt lịch sử, đạo đức của xã hội tư bản là một nấc thang, một tiến bộ; nó đã vượt xa đạo đức phong kiến, nhưng ở đây, không có chân lý đạo đức và thực chất, với sự trả công không công bằng theo vị trí và đẳng cấp, 10 "chân lý tư bản" là sự bất công trong pháp quyền của xã hội tư bản. Khẩu hiệu "tự do, bình đẳng, bác ái" mà giai cấp tư sản nêu ra lúc ban đầu, về thực chất, chỉ là lời nói suông và là chiếc bao bì hào nhoáng chứa đựng bên trong đầy rẫy sự bất công, vô nhân đạo. Cùng với việc tạo ra bước tiến khổng lồ và những thành tựu to lớn trong phát triển, chủ nghĩa tư bản cũng đã để lại trong lòng nó không ít những hậu quả tiêu cực. Vấn đề công lý và đạo đức trong xã hội ngày càng suy giảm.
Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin đã sớm chỉ ra, đạo đức là phạm trù có tính lịch sử, ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với những điều kiện tồn tại của xã hội. Với tính cách là một trong những hình thái sớm ra đời nhất của ý thức xã hội, đạo đức bao gồm những chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng (gia đình, làng xóm, giai cấp, dân tộc hoặc toàn xã hội). ăn cứ vào các chuẩn mực ấy, người ta đánh giá hành vi của mỗi người theo các quan niệm thiện và ác, về cái không làm được và về nghĩa vụ phải làm. Khác với pháp luật, các chuẩn mực đạo đức không ghi thành văn bản pháp quy có tính cưỡng chế, song mọi người đều phải thực hiện do sự thôi thúc của lương tâm và dư luận xã hội.
ạo đức ra đời và phát triển do nhu cầu xã hội phải điều tiết mối quan hệ giữa các cá nhân và hoạt động chung của con người trong xã hội. Tính đạo đức biểu hiện bản chất xã hội của con người, là nét cơ bản trong tính người; sự tiến bộ của ý thức đạo đức. Quan niệm đạo đức truyền thống ở Việt Nam không chỉ phụ thuộc một chiều vào tư tưởng đạo đức Nho học, mà chủ yếu bị chi phối bởi văn hóa xóm làng qui định cái tình, cái nghĩa, cái lý cộng đồng hơn là cương thường hay luân thường Nho giáo. Nội dung và phạm vi của đạo đức Việt Nam là lối sống có tình nghĩa theo phương châm “thấu tình” sẽ “đạt lý”.
11 ạo đức xét đến cùng là sự phản ánh của các quan hệ kinh tế - xã hội. iá trị đạo đức được xác định ở chỗ nó phục vụ cho tiến bộ xã hội vì hạnh phúc của con người. ạo đức giúp cho xã hội loài người tiến lên trình độ cao hơn, thoát khỏi ách bóc lột lao động. àn về đạo đức cộng sản chủ nghĩa, Lênin cho rằng: “ ó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả nhữmg người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản” [48, tr.
ây là một quan niệm mang tính cách mạng và khoa học về đạo đức mà quan niệm của các tôn giáo và các nền đạo đức khác không thể đạt tới. ạo đức ngoài sự chi phối của các điều kiện kinh tế - xã hội, còn chịu sự tác động của sự tự ý thức và niềm tin về bản thân mình, về dân tộc, giai cấp theo những lý tưởng và những định hướng giá trị nhất định. o đó, đạo đức có tính độc lập tương đối. Quan hệ đạo đức là yếu tố tạo nên tính hiện thực trong bản chất của con người, đó là hệ thống những quan hệ xác định giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội về mặt đạo đức.
Mác khi đề cập đến bản chất của con người đã cho rằng: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội”. Thực tế cho thấy, mỗi con người từ khi sinh ra cho đến khi lớn lên luôn sống và hoạt động trong các mối quan hệ xã hội khác nhau. Trong những mối quan hệ đó, có những mối quan hệ chỉ nhằm phục vụ cho công việc trước mắt nhưng cũng có những mối quan hệ xã hội gắn liền với mỗi người trong suốt cả cuộc đời. Và có thể nói, một trong những yếu tố để làm nên sợi dây gắn bó bền chặt giữa các mối quan hệ đó chính là nền tảng đạo đức, giá trị luân lý tốt đẹp luôn được đề cao trong xã hội.
Có thể khẳng định giáo dục đạo đức cách mạng cho đảng viên có ý nghĩa quan trọng bởi đội ngũ đảng viên là những bộ phận ưu tú, đóng vai trò quyết định trong việc lãnh đạo và phát triển đất nước. Nói đến đội ngũ 12 đảng viên ở nước ta được đặt trong các mối quan hệ xác định: đảng viên với tổ chức, bộ máy; đảng viên với đường lối, chính sách, nhiệm vụ chính trị; đảng viên với phong trào cách mạng của quần chúng. Từ cách tiếp cận trên, có thể hiểu đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng, của xã hội; đó là toàn bộ quan niệm về thiện ác , lương tâm , danh dự ,trách nhiệm về lòng tự trọng , về công bằng, hạnh phúc và về những quy tắc đánh giá , điều chỉnh hành vi ứng giữa người với người, cá nhân và xã hội. Quan niệm về đạo đức cách mạng ạo đức cách mạng là một khái niệm dùng để phân biệt với đạo đức thủ cựu, nó đối lập hoàn toàn với đạo đức của giai cấp tư sản và các giai cấp bóc lột khác.
ạo đức cách mạng mang bản chất của giai cấp công nhân, là vũ khí tinh thần mạnh mẽ để giai cấp công nhân, những người cộng sản chân chính đứng lên đấu tranh vì một lý tưởng cao đẹp là đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho con người, cho mọi người. ó là sự hy sinh, phấn đấu vì lợi ích của giai cấp và dân tộc, vì mục tiêu, lý tưởng giải phóng loài người khỏi áp bức, bất công, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và hạnh phúc. Mục tiêu lý tưởng đó phù họp với quy luật vận động, phát triển của lịch sử - xã hội, đồng thời phù hợp với quy luật tiến bộ của đạo đức nhân loại, vì nó hướng tới mục tiêu giải phóng triệt để con người khỏi áp bức bất công trong xã hội. Bàn về đạo đức cách mạng, Lênin cho rằng: “ ó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả nhữmg người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản” [35, tr.
ạo đức cách mạng, bắt nguồn từ bản chất cách mạng và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được thể hiện trong cuộc đấu tranh xóa bỏ giai cấp bóc lột, chế độ bóc lột, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa - 13 xã hội tự do, bình đẳng, bác ái. ạo đức cách mạng là đạo đức phản ánh lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong sự nghiệp đấu tranh để giải phóng mình và giải phóng nhân loại, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Tiếp cận đạo đức mới, đạo đức cách mạng từ góc độ giá trị - nhân cách thì đó là hệ thống những phẩm chất đạo đức tạo nên nền tảng nhân cách. Nhân cách đó cùng với năng lực là hai yếu tố cơ bản tạo lập nên phẩm giá của con người, trước hết là người cán bộ cách mạng.
Ở đây, có sự thống nhất hữu cơ giữa phẩm chất chính trị và phẩm chất đạo đức. Sự thống nhất hữu cơ này được quy định bởi sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp công nhân. Lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp và sự thống nhất giữa chúng vừa là mục tiêu lý tưởng chính trị, vừa là mục tiêu lý tưởng đạo đức của giai cấp công nhân Việt Nam. Sự thống nhất giữa lý tưởng chính trị và lý tưởng đạo đức được thể hiện rõ nhất và sinh động nhất ở nhân cách ồ hí Minh.
Tất cả lý tưởng và hành động của Người đều vì quyền lợi, lợi ích của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân và vì sự nghiệp giải phóng con người, trước hết là những người cùng khổ bị áp bức, bóc lột.