Đặt vấn đề Tìm hiểu các kỹ thuật để giám sát hệ thống mạng thuê bao di động là một vấn đề khoa học nhằm ứng dụng trong lĩnh vực an ninh an toàn thông tin. Hiện nay, trên thế giới tại các quốc gia tiên tiến nhƣ Mỹ, Anh, Tây Âu, Nhật bản, Trung Quốc, vấn đề nghiên cứu này rất đƣợc phát triển nhƣng cũng chƣa xây dựng đƣợc các bộ tiêu chuẩn thống nhất cho mạng giám sát hợp pháp(LI) và các quy chuẩn cho các nhà mạng. Các kỹ thuật giám sát hiện nay đƣợc các hãng nhƣ Công ty Ericsson[5], Công ty Nice[6]… đƣa ra với các "giải pháp đóng", đòi hỏi phải mua các phần mềm lõi, các phần cứng nền rất khó phát triển cho các quốc gia có tiềm lực khoa học, công nghệ chƣa đủ mạnh nhƣ Việt Nam và một nƣớc đang phát triển khác. Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu công nghệ giám sát thuê bao di động của nƣớc ngoài sau đó cải tiến, phát triển các mô hình, các modul phần mềm nhằm làm chủ và ứng dụng vào các mạng thông tin di động tại nƣớc ta là một yêu cầu có tính chất tự nhiên trong nghiên cứu khoa học.
Đây chính là mục tiêu của bản luận văn với đề tài Nghiên cứu kỹ thuật giám sát thuê bao di động 3G do chúng tôi thực hiện. Mục tiêu đề tài: - Làm chủ về kỹ thuật và các modul phần mềm trong hệ thống giám sát hợp pháp thuê bao 3G. - Phát triển các mô hình kỹ thuật giám sát hệ thống từ một nhà cung cấp dịch vụ và có khả năng giám sát dịch vụ qua giao thức IP: thoại VoiIP. - Phát triển một số modul phần mềm trong bộ phần mềm của các hãng phần mềm trên thế giới thành giao diện tiếng Việt trực quan, dễ sử dụng và phù hợp với các mô hình nhà mạng tại Việt Nam.
- Cài đặt và tích hợp thêm phần mềm CSDL của dữ liệu thuê bao vào hệ thống 3. Nội dung nghiên cứu: - Nghiên cứu lịch sử phát triển thông tin di động tại Việt Nam. - Nghiên cứu hạ tầng và dịch vụ thông tin di đông 3G. - Nghiên cứu các tổ chức, tiêu chuẩn và mô hình giám sát hợp pháp thuê bao di động 3G trên thế giới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 2 - Nghiên cứu kỹ thuật giám sát hợp pháp thuê bao di động 3G tại nhà cung cấp dịch vụ đƣờng truyền- IAP của hãng trên thế giới và phát triển mô hình giám sát mạng di động 3G. Phạm vi nghiên cứu: - Khảo sát mô hình, thử nghiệm kỹ thuật giám sát dịch vụ VoiIP của thuê bao 3G. - Các modul phần mềm của các hãng và hệ quản trị cơ sở dữ liệu thông dụng nhằm phát triển và ứng dụng tại Việt Nam. Các kết quả mới của luận văn - Phát triển mô hình giám sát phù hợp với điều kiện hạ tầng mạng và công nghệ của các nhà mạng tại Việt Nam.
- Phát triển một số modul phần mềm phù hợp với yêu cầu đặc thù sử dụng của các đơn vị ứng dụng dựa trên phần mềm nền đã đƣợc thế giới chuẩn hóa. - Xây dựng và tích hợp dữ liệu thuê bao vào hệ thống phù hợp với yêu cầu sử dụng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VÀ HẠ TẦNG THÔNG DI ĐỘNG 3G 1. Thông tin di động toàn cầu Thông tin liên lạc luôn là nhu cầu cần thiết và đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội.
Để đáp ứng nhu cầu này, khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực thông tin đã đƣa ra nhiều hình thức liên lạc ngày càng tiện nghi hơn, chất lƣợng tốt hơn. Mặc dù các hệ thống thông tin di động thử nghiệm đầu tiên đƣợc sử dụng vào những năm 1930 – 1940 [8] trong các sở cảnh sát Hoa Kỳ nhƣng các hệ thống điện thoại di động thƣơng mại thực sự chỉ ra đời vào khoảng cuối những năm 1970 đầu những năm 1980. Các hệ thống điện thoại thế hệ đầu sử dụng công nghệ tƣơng tự và đƣợc gọi là các hệ thống thông tin di động thế hệ thứ nhất - 1G. Hệ thống thông tin di động 1G ra đời đánh dấu sự thành công trong việc giải quyết các bài toán khó khi đó liên quan đến việc kết hợp truyền dẫn thông tin giữa các vùng phủ sóng riêng lẻ( ngày nay gọi là các tế bào).
Hệ thống di động 1G sử dụng phƣơng tức đa truy cập phân chia theo tần số (FDMA) với dung lƣợng thấp chỉ cung cấp dịch vụ thoại đơn thuần. Thời gian này có thể kể đến các hệ thống NMT( Bắc Âu), TACS( Anh ) và AMPS( Mỹ ). Đến những năm 1980, khi số lƣợng các thuê bao trong mạng tăng lên, hệ thống trở lên quá tải, các nhà phát triển công nghệ di động nhận thấy cần phải có biện pháp nâng cao dung lƣợng truyền dẫn, cải thiện chất lƣợng các cuộc đàm thoại cũng nhƣ cung cấp thêm một số dịch vụ bổ sung cho mạng đáp ứng yêu cầu truyền số liệu tốc độ thấp. Để giải quyết vấn đề này, hệ thống thông tin di động thế hệ hai – 2G ra đời, sự dụng hoàn toàn kỹ thuật xử lý tín hiện số.
Cũng tƣơng tự thời gian trƣớc, giai đoạn này trên thế giới xuất hiện nhiều hệ thống sử dụng các công nghệ khác nhau không tƣơng thích, bao gồm: GSM (Châu Âu), D-AMPS sử dụng công nghệ đã truy nhập phân chia theo thời gian TDMA; và IS – 95 (Mỹ và Hàn Quốc) sử dụng công nghệ đã truy nhập phân chia theo mã CDMA băng hẹp. Sự phát triển công nghệ thông tin di động thế hệ thứ hai cùng các tiện ích của nó làm bùng nổ lƣợng thuê bao di động trên toàn cầu. Theo số liệu thông kê của Hiệp hội các nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động toàn cầu GSA, tính đến thời điểm tháng 3/2011 trên toàn thế giới hiện có 5 tỉ thuê bao gi động 2G và con số này vẫn còn không ngừng tăng lên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 4 Thế giới di động 2.5 G có vai trò là bƣớc đệm chuyển tiếp từ 2G lên 3G.
Bằng việc bổ sung hạ tầng phục vụ truyền dẫn dữ liệu gói và tăng dung lƣợng trên các kênh tần số vô tuyến có thể lên tới 384kbps, kếp hợp với thực hiện tối ƣu hóa cho dữ liệu gói truy nhập Internet từ các thiết bị đầu cuối. Thế hệ này có thể kể đến các công nghệ GPRS/EDGE (phát triển từ hệ thống 2G TDMA), 1XRTT (phát triển từ hệ thống 2G CMDA). Trên cùng một mạng lƣới 2G, 2.5G đã đƣa Internet vào thế giới thông tin di đông. Đây thực sự là một bƣớc tiến quan trọng mở ra kiến trúc mạng lai ghép trong hệ thống viễn thông di động.
Theo số liệu thống kê của GSA và CDG (Nhóm các nhà phát triển CDMA), tính đến hết Q4/2012, trên thế giới hiện có tổng số khoảng 1.77 tỉ thuê bao 3G, trong đó khoảng 1.14 tỉ thuê bao họ WCDMA đƣợc cung cấp dịch vụ bởi 410 nhà khai thác trên 162 nƣớc và 626 triệu thuê bao họ CDMA2000 đƣợc cung cấp dịch vụ bởi 338 nhà khai thác trên 124 nƣớc.1 Lịch sử phát triển thông tin di động Việt Nam Việt Nam là một nƣớc đi sau về thông tin di động, ngay từ thời gian đầu đã coi đây là một lĩnh vực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của đất nƣớc. Năm 1993, công ty thông tin di động (VMS), doanh nghiệp Nhà nƣớc trực thuộc Tập đoàn Bƣu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) đã trở thành doanh nghiệp đầu tiên khai thác dịch vụ thông tin di động GSM 900/1800 với thƣơng hiệu MobiFone, đánh dấu cho sự khởi đầu của ngành thông tin di động Việt Nam. Đến năm 1997, công ty Dịch vụ viễn thông Vinaphone (doanh nghiệp Nhà nƣớc trực thuộc VNPT) đƣợc thành lập, là doanh nghiệp thứ hai hoạt động trong lĩnh vực này. Độc quyền cung cấp dịch vụ trong 10 năm đầu, MobiFone và Vinaphone không hề có đối thủ cạnh tranh.
Năm 2003, công ty cổ phần Dịch vụ Bƣu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT) ra mắt mạng thông tin di động thứ 3 tại Việt Nam, đã chấm dứt hình ảnh độc quyền trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ thông tin di động tại Việt Nam mà từ lâu đã do VNPT thống trị. Không những thế, S-fone táo bạo lựa chọn sử dụng công nghệ mới CDMA cho hệ thống mạng lƣới của mình, công nghệ CDMA lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam. Với mục đích đầy tham vọng của SPT: thay máu cho thị trƣờng thông tin di động Việt Nam cả về công nghệ lẫn dịch vụ. Tuy nhiên, thực tế đã không đƣợc nhƣ SPT mong đợi.
Năm 2004, sự xuất hiện của Viettel Mobile, đơn vị chủ quản là Công ty Viễn thông Quân đội (tiền thân của Tập đoàn Viễn thông Quân đội - Viettel) đã thực sự Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 5 mang đến một luồng gió mới cho thị trƣờng thông tin di động Việt Nam. Tuy theo bƣớc các đàn anh VNPT lựa chọn công nghệ GSM, nhƣng Viettel đã làm đƣợc cái mà SPT không làm đƣợc, chiếm lĩnh vị trí số 1 tại thị trƣờng Việt Nam. Viettel ra đời đã mang sự phổ cập của dịch vụ di động đến đông đảo các tầng lớp nhân dân trong xã hội. Sự phát triển thần tốc và các chính sách dịch vụ, giá cƣớc mới mẻ, táo bạo ngay từ khi tham gia thị trƣờng đã mang đến sự thành công không tƣởng cho Viettel.1 Thời điểm ra đời các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông 1.2 Dịch vụ di động 3G 1.1 Thoại kém hình ảnh(Video call) Video call là dịch vụ thoại có hình cho phép các thuê bao di động khi đang đàm thoại có thế thấy hình ảnh trực tiếp của nhau thông qua camera của máy điện thoại di động.2 Điện thoại internet(Mobile Internet) Mobile Internet là dịch vụ truy nhập Internet trực tiếp từ máy điện thoại di động thông qua các công nghệ truyền dữ liệu GPRS/EDGE/3G của nhà cung cấp dịch vụ.3 Điện thoại truyền hình (Mobile TV) Mobile TV là dịch vụ giúp khách hàng xem truyền hình trong nƣớc, quốc tế trực tiếp, xem các nội dung theo yêu cầu (ca nhạc chọn lọc, phim truyện đặc sắc, video clip,.) ngay trên màn hình máy điện thoại di động.
Ngoài ra còn nhiều dịch vụ khác nhƣ : Game online, Mobile Music, Mobile Clip, Mobile Email, Mobile Map… 2. Kiến trúc mạng lõi UMTS Họ công nghệ 3G/WCDMA đƣợc quản lý và tiêu chuẩn hóa bới tổ chức quốc tế 3GPP. Trong toàn bộ tài liệu này,[13] xem nhƣ họ công nghệ 3G/WCDMA bao gồm WCDMA của giai đoạn đầu và HSPA của các phiên bản về sau.