phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc bố cục thành 3 chƣơng 6 tiết. 6 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÁO CHÍ VÀ CHỨC NĂNG PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA BÁO CHÍ 1. Khái niệm báo chí, chức năng và vai trò của báo chí 1. Khái niệm báo chí Với xu thế phát triển nhƣ hiện nay, hoạt động thông tin tuyên truyền nói chung và báo chí nói riêng đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội.
Cũng nhƣ thế giới, báo chí Việt Nam đã có những bƣớc phát triển vƣợt bậc, cả về số lƣợng và chất lƣợng, góp phần quan trọng vào mọi mặt của đời sống xã hội, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Thực hiện đƣờng lối đổi mới do Đảng khởi xƣớng và lãnh đạo, các phƣơng tiện truyền thông đại chúng đóng vai trò hết sức quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm, tai tệ nạn xã hội. Theo các nhà nghiên cứu nói chung, báo chí là một mặt của đời sống xã hội, từ khi ra đời đến nay đã tồn tại song hành cùng quá trình phát triển của loài ngƣời. Trong quá trình đó, báo chí có những tác động to lớn đối với xã hội loài ngƣời đƣợc thể hiện trên nhiều phƣơng diện kinh tế, chính trị, văn hoá, lối sống, v.
Do vậy, việc nhận thức vai trò của báo chí là một vấn đề bức thiết trong mọi thời đại, mọi hình thái Nhà nƣớc. Nó có ý nghĩa rất lớn góp phần vào việc điều hoà các mối quan hệ xã hội theo định hƣớng chung của Nhà nƣớc, tạo ra một môi trƣờng ổn định để phát triển kinh tế, xã hội. Chính vì thế, trong quá khứ cũng nhƣ hiện tại có nhiều học giả nghiên cứu và đƣa ra những khái niệm khác nhau về báo chí dƣới những góc độ khác nhau. 7 z Theo triết học cổ Hy Lạp: “Chữ báo chí xuất phát từ chữ information có nghĩa là thông tin, thông báo, báo tin và được hiểu như việc tạo ra hình thái giúp cho sự hiểu biết của con người về thế giới xung quanh đang tồn tại bằng việc lấy hiện thực khách quan để phản ánh một cách liên tục, xuyên suốt trong quan hệ chặt chẽ giữa nhà báo - tác phẩm - công chúng”.
Trong khi đó, chính các tác giả quyển sách này lại cho rằng: “Báo chí là bao gồm tất cả các tổ chức thông tin thuật những loại hình khác nhau (xuất bản, radio, vô tuyến truyền hình, v.) và ở những cấp độ khác nhau từ trung ương đến địa phương, với ý nghĩa là tất cả các phương tiện thông tin đại chúng”. Một số quan điểm khác thì không định nghĩa báo chí riêng biệt mà gắn liền báo chí với truyền thông. Ở cách hiểu này, trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học định nghĩa báo chí truyền thông hiểu theo nghĩa chung nhất và trừu tƣợng nhất là “quá trình truyền dữ liệu giữa các đơn vị chức năng”. Trong Từ điển xã hội học do G.Trommsdorff chủ biên, định nghĩa Báo chí truyền thông là “sự tạo ra mối liên hệ giữa hai đối tượng có thể mang bản chất sự sống hay không”.
Còn tác giả Trần Hữu Quang trong cuốn Xã hội học truyền thông đại chúng thì khẳng định: “Báo chí truyền thông là một quá trình truyền đạt, tiếp nhận và trao đổi thông tin nhằm thiết lập các mối liên hệ giữa con người với con người”. Theo đó, tác giả này định nghĩa, “truyền thông đại chúng là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như phát thanh, truyền hình”. Nhìn chung, các tác giả trên bằng cách này hay cách khác, đã cố gắng đƣa ra những định nghĩa chung nhất về báo chí và tựu trung lại đều xem báo chí nhƣ một phƣơng tiện diễn đạt, chia sẻ thông tin giữa các chủ thể khác nhau trong xã hội. 8 z Luật Báo chí nƣớc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1989, đƣợc Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 5 sửa đổi, bổ sung và thông qua ngày 12 tháng 6 năm 1999 (sau đây được gọi là Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung 1999) trong phần định nghĩa về báo chí đã không tập trung vào giải thích rõ nội hàm của báo chí mà chỉ làm công tác liệt kê các loại hình báo chí.
Điều 3 Luật Báo chí quy định: Báo chí nói trong luật này là báo chí Việt Nam, bao gồm: báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn), báo nói (chƣơng trình phát thanh), báo hình (chƣơng trình truyền hình, chƣơng trình nghe - nhìn thời sự đƣợc thực hiện bằng các phƣơng tiện kỹ thuật khác nhau), báo điện tử (đƣợc thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nƣớc ngoài. Mặc dù điều 3 Luật Báo chí chƣa đƣợc xem nhƣ một định nghĩa chính thức về báo chí nhƣng với cách liệt kê nhƣ trên đã chỉ rõ các loại hình báo chí của nƣớc ta hiện nay. Chức năng của báo chí a) Khái niệm chức năng Chức năng, tiếng La tinh là function, đƣợc hiểu là sự tổng hợp vị trí, vai trò, bổn phận, nghĩa vụ, tác dụng của cái gì đó đối với sự vật, hiện tƣợng nào đó. Mỗi một sự vật, hiện tƣợng tồn tại và vận động đều nhằm thực hiện những mục đích nhất định nào đó.
Lý thuyết chức năng chỉ ra tác động của các đặc tính của một hệ thống khách thể đối với các hệ thống môi trƣờng cùng nằm trong một hệ thống các quan hệ với khách thể đang xem xét một hệ thống các quan hệ nhất định; Kết quả đối với một hệ thống xã hội của một hiện tƣợng, sự kiện, yếu tố, thể chế xã hội có tác dụng góp phần vào sự vận hành, duy trì hệ thống xã hội đó. Từ sự phân tích trên, có thể đƣa ra khái niệm chức năng của báo chí nhƣ sau: Chức năng của báo chí là sứ mệnh và bổn phận hay nghĩa vụ và 9 z trách nhiệm vốn có của báo chí, là cái báo chí sinh ra để làm, thông qua đó hiểu được vị trí, vai trò, tác dụng của báo chí trong đời sống xã hội. Tổng hợp vai trò, vị trí và tác dụng của báo chí cũng chính là chức năng của báo chí. Chức năng của báo chí đƣợc hình thành không phải do sự áp đặt chủ quan, mà nó tồn tại một cách khách quan trên cơ sở những qui luật nội tại của báo chí.
b) Chức năng của báo chí Báo chí có chức năng, vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống xã hội. Đó là các chức năng thông tin, chức năng tƣ tƣởng, chức năng khai sáng - giải trí, chức năng tổ chức - quản lý, giám sát và phản biện xã hội, chức năng kinh tế - dịch vụ. Trong đó: Thông tin là chức năng cơ bản, chức năng khởi nguồn của báo chí. Báo chí ra đời là để đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu thông tin giao tiếp của con ngƣời và xã hội.
Xã hội càng phát triển, con ngƣời càng văn minh thì nhu cầu thông tin giao tiếp càng cao, càng đa dạng phong phú. Quá trình đáp ứng nhu cầu này làm cho báo chí phát triển nhanh chóng. Một số yêu cầu của chức năng thông tin. Chức năng tư tưởng là chức năng xuyên suốt, thể hiện tính mục đích của báo chí.
Với chức năng này, theo quan điểm của Đảng ta, báo chí là công cụ, phƣơng tiện quan trọng dùng để truyền bá hệ tƣ tƣởng của Đảng, giáo dục lý luận Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và làm cho hệ tƣ tƣởng - lý luận này trở thành chủ đao, chiếm ƣu thế trong đời sống tinh thần, tƣ tƣởng của đông đảo nhân dân. Báo chí là một binh chủng xung kích, đi đầu trong công tác tƣ tƣởng của Đảng. Chức năng khai sáng - giải trí đƣợc hiểu rằng, báo chí không chỉ là kênh thông tin - truyền thông quan trọng cung cấp thông tin, kiến thức, mà 10 z còn là diễn đàn trao đổi, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm phong phú nhằm nâng cao trình độ dân trí, đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững. Báo chí là kênh quan trọng cung cấp thông tin, kiến thức, giáo dục, giao lƣu, truyền tải, tiếp biến văn hóa có hiệu quả nhất.
Trên các loại hình báo chí và các dạng thức truyền thông hiện đại ngày càng có nhiều phƣơng thức giải trí thú vị và hữu ích, nhất là truyền hình, phát thanh, báo mạng điện tử và mạng xã hội. Giải trí cũng là cách thức phổ biến, bảo vệ hệ giá trị văn hóa. Chức năng quản lý, giám sát và phản biện xã hội của báo chí thể hiện ở chỗ, báo chí duy trì và phát triển mối liên hệ chặt chẽ giữa chủ thể và khách thể quản lý thông qua việc duy trì và phát triển dòng thông tin hai chiều, bảo đảm cho các quyết định quản lý đƣợc thông suốt và thực thi, v. Giám sát có thể đƣợc hiểu là “theo dõi, kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không”.
Điều đó có nghĩa là, giám sát bao gồm hai quá trình, theo dõi và kiểm tra. Giám sát có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm cho hoạt động đƣợc thực hiện đúng mục đích và đạt hiệu quả tốt nhất trong điều kiện có thể, theo mục tiêu, chƣơng trình, kế hoạch đã đề ra. Giám sát xã hội của báo chí là quá trình báo chí bằng mọi phƣơng thức huy động sức lực, trí tuệ và cảm xúc của đông đảo nhân dân với tinh thần trách nhiệm chính trị cao nhất trong việc theo dõi, kiểm tra quá trình thực hiện đƣờng lối, chủ trƣơng chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nƣớc, bảo đảm đạt đƣợc mục đích cao nhất trong điều kiện có thể.