chương 1 Chương 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNII VỀ NHIỮNG TRƯỜNG TIỢP GIẢM NIIE TRÁCII NIHIỆM TIÏNII SỰ TIIEO BỘ TUẬT HÌNH § ET NAM NAM 1999 VA THUC TIEN AP DUNG CAC QUY BINH NAY TREN DIA BAN TINH TUYỂN QUANG GIẢI DOẠN 2010— 2014. Thực trạng các quy định của Bộ luật Tlình sự năm 1999 về những trường hợp giắăm nhẹ trách nhiệm hình sự Nội dụng của những trường hợp giám nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Diều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. 39 Nội dung của các trưởng hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp đụng theo Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. 61 Theo quy định tại Điều 45 BLHS năm 1990 (đã được sửa đổi, bỗ sung một số diều năm 2009), thì những trường hợp giảm nhẹ TNH§ lả một trong những căn cứ để Tòa án quyết định hình phạt, vai trò của những trường hợp piãm nhẹ TNH8 rất quan trọng trong việc quyết định hình phạt: ˆLĩnh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có ý nghĩa làm cho tội phạm đã thực hiện và nhân thân của người phạm tội ít nguy hiểm hơn so với những trường hợp phạm tội mà không có tình tiết piảm nhẹ đó, đồng thời khi có nó người phạm tội được Tòa án áp dựng loại và mức hình phạt ít nghiêm khắc hơn.
3] “Irong thực tiễn áp dựng pháp luật, vẫn để áp dụng những trường hợp giảm nhẹ TNIIS đang còn có một số vướng mắc, sai sói cần được tháo gỡ. Đời lẽ theo Nghị quyết 49 đã nêu 'Thực tiễn cho thấy, phạm vi áp dụng của các tỉnh tiết giảm nhẹ TNIIS tương đổi rộng. Lạm dụng hoặc thờ ơ đối với việc áp dụng chúng có thể gây nên tác hại nhất định, hậu quả có thể quyết định hình phạt quá nhẹ, dẫn đến giảm hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm. Sự thờ ơ với việc &p dụng các quy định vỀ các tỉnh tiế piảm nhẹ TNH8 có thể dưa dến việc quyết dịnh hình phạt quá nghiêm khắc, dẫn đến phản tác dụng cho quả trinh cải tạo, giáo dục người phạm tôi |2, tr.2] Hơn nữa, việc áp dụng chính xác những trường hợp giảm nhẹ TNH5 giúp cho việc đánh giá tính chất vụ án, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi của người phạm tội được chính xác, trên cơ sở đó mới có thể quyết định loại vả mức hình phạt một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật.
Đồng thởi việc áp dụng đúng những trường hợp giảm nhẹ TNHS đảm báo cho việc thống nhất trong chính sách hình sự của Nhà nước ta trong công tác đầu tranh phòng, chồng tội phạm [1, tr. Irong khi đó, việc áp đụng không những tỉnh tiết cụ thể, những căn cử xác đáng có thể dẫn đến việc định tội danh không đúng, không phủ hợp, lam cho hình phạt không dạt được mục đích khi áp dụng đổi với người phạm tội. Trong số đó, các trường hợp giảm nhẹ TNHB là cơ sở để giám nhẹ TNHS cho người phạm tội và giữ một vai trò hết sức quan trọng trong việc định tôi danh và quyết định hình phạt, thực thị đúng các quy định này là bảo đảm thực hiện nguyên tắc pháp chế. Đây cũng là một trong những nội dung quan trọng trong việc sửa đổi Bộ luật Tĩnh sự năm 1999 Nghiên cứu lịch sử lập pháp của nước ta cho thấy quy định về những trường hợp giảm nhẹ 'NHã dã tồn tại từ khá lâu trong lịch sứ.
Ngay từ thời phong kiến, trong Quốc triều hình luật đã có những quy định về những trường hợp giám nhẹ trách nhiệm hình. Cho đến BLHS năm 1985, những trường hợp giảm nhẹ IÌNH8§ được ghi nhận chính thức như là những chế định độc lập trong pháp luật hình sự một cách chủ tiết và khá hoàn thiện. Đến khi pháp điển hóa pháp luật hình sự Việt Nam lần thứ hai với việc thông qua BLH§ năm 1999, các quy định về những trường hợp giảm nhẹ TNH8 cũng đã được sửa đổi, bỗ sung và tiẾp tục hoàn thiện. Tuy nhiên, lần pháp điển hóa thử hai và a được sửa đỗi bỗ sung năm 2009 thi BI.H8 vẫn chưa đáp ứng dược nhu cầu về mit lap pháp đối với chế định nảy, cũng như thực tiễn áp dụng nó.
Chẳng han, ca hai BLHS nim 1985 và năm 1999 (sửa dỗi bỗ sung năm 2009) vẫn không, đưa 1a khái niệm mà chỉ liệt kê những trường hợp giảm nhẹ hình phạt trong, Khoản 1 Điều 46 và quy định Tòa án có thể coi các tình tiết khác là tỉnh tiết giảm nhẹ trong Khoản 2 Điều 46 BI. Điều dỏ dẫn đến cách hiểu và áp dụng pháp luật có những bất cập nhất định. Việc nghiên cứu những trường hop giảm nhẹ TNHS theo Luật Hinh sự Việt Nam không chỉ có ý nghĩa về mặt nhận thức khoa học mà còn có ÿ nghĩa thực tiễn rắt quan trọng trong việc áp dụng các trường hợp giảm nhe TNIIS. w DANH MỰC NHỮNG TỪ VIẾT TẤT TRONG LUẬN VĂN BLIIS Bộ luật ITình sự BLTTHS Bộ luật Tế tụng hình sự KIP Khung hình phạt PLHS Pháp luật Hình sự TANDIC 'Lòa án nhân dân tối cao TNIS Trach nhiệm hình sự VKSNDTC Viên kiếm sát nhân dân tối cao XHCN Xã hội chủ nghĩa.
những tỉnh tiết cụ thể, những căn cử xác đáng có thể dẫn đến việc định tội danh không đúng, không phủ hợp, lam cho hình phạt không dạt được mục đích khi áp dụng đổi với người phạm tội. Trong số đó, các trường hợp giảm nhẹ TNHB là cơ sở để giám nhẹ TNHS cho người phạm tội và giữ một vai trò hết sức quan trọng trong việc định tôi danh và quyết định hình phạt, thực thị đúng các quy định này là bảo đảm thực hiện nguyên tắc pháp chế. Đây cũng là một trong những nội dung quan trọng trong việc sửa đổi Bộ luật Tĩnh sự năm 1999 Nghiên cứu lịch sử lập pháp của nước ta cho thấy quy định về những trường hợp giảm nhẹ 'NHã dã tồn tại từ khá lâu trong lịch sứ. Ngay từ thời phong kiến, trong Quốc triều hình luật đã có những quy định về những trường hợp giám nhẹ trách nhiệm hình.
Cho đến BLHS năm 1985, những trường hợp giảm nhẹ IÌNH8§ được ghi nhận chính thức như là những chế định độc lập trong pháp luật hình sự một cách chủ tiết và khá hoàn thiện. Đến khi pháp điển hóa pháp luật hình sự Việt Nam lần thứ hai với việc thông qua BLH§ năm 1999, các quy định về những trường hợp giảm nhẹ TNH8 cũng đã được sửa đổi, bỗ sung và tiẾp tục hoàn thiện. Tuy nhiên, lần pháp điển hóa thử hai và a được sửa đỗi bỗ sung năm 2009 thi BI.H8 vẫn chưa đáp ứng dược nhu cầu về mit lap pháp đối với chế định nảy, cũng như thực tiễn áp dụng nó. Chẳng han, ca hai BLHS nim 1985 và năm 1999 (sửa dỗi bỗ sung năm 2009) vẫn không, đưa 1a khái niệm mà chỉ liệt kê những trường hợp giảm nhẹ hình phạt trong, Khoản 1 Điều 46 và quy định Tòa án có thể coi các tình tiết khác là tỉnh tiết giảm nhẹ trong Khoản 2 Điều 46 BI.
Điều dỏ dẫn đến cách hiểu và áp dụng pháp luật có những bất cập nhất định. Việc nghiên cứu những trường hop giảm nhẹ TNHS theo Luật Hinh sự Việt Nam không chỉ có ý nghĩa về mặt nhận thức khoa học mà còn có ÿ nghĩa thực tiễn rắt quan trọng trong việc áp dụng các trường hợp giảm nhe TNIIS. w DANII MYC CAC BANG. SẼ hiện bing Tén bang Trang Bảng 2.
Thông kế số lần sử dụng những trường hợp giảm nhẹ TNH§ dược quy định tại Khoản 1 Điều 46 BLHS 1999 dựa trên cơ sở nghiên củu 150 bán án. Thống kẻ số lần sử dụng những trường hợp giảm nhẹ TNUS được quy định tại Khoản 2 Diễu 46 BL1I8 năm 1999 được hướng đẫn lại Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP. dựa trên cơ sở nghiên cũu 150 bán án. Thống kê viêo áp dụng những tưởng hợp giảm nhẹ TINH do Tòa án tự phi nhận trong bản án theo quy dụnh tại Khoản 2 Diễu 46 DLIIS dựa trên cơ sở nghiên cứu 150 ban art 70 MO DAU 1.
Tính cấp thiết của đề tài Trong công cuộc dỗi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do hần dân, vì Nhân dân là một nhiệm vụ tiến tục dược Đại hội XI của Đảng kế thừa và phát triển, đồng thời tư tưởng chỉ đạo đó đã được hiển dịnh một cách dầy đủ tại Hiển pháp năm 2013, tại Hiến pháp năm 2013 quy định: ":. Vhả nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Viet Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” [35, Điều 2, Khoản 1]. Muốn thực hiện được nhiêm vụ đó chúng ta cần phát huy đân chủ, giữ vững kỷ cương, tăng cường pháp chế. Trong lĩnh vực tư pháp bình sự, định hướng đó đòi hỏi thực hiện nghiêm.
chỉnh nguyên tắc pháp chế nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2 tháng 6 năm 2005 của Ban chấp hành Trung ương Đăng dã chỉ rõ Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và dân sự phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Wha nước pháp quyền xã hôi chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vi nhân dân; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, đảm bão tính dồng bộ, dân chủ, công khai, mình bạch, Lôn trọng và bảo về quyền con người [2, tr.2-3] Trong pháp luật hình sự, các tỉnh tiể có vai trả quan trọng trong việc xác dịh và xử lý tôi phạm. Được sử dựng dễ phân biệt các tội pham khác nhau: đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của các trường hợp phạm tội trong củng loại tội phạm, làm rõ mức độ nguy hiểm cũng như mức độ TNH8 của các trường hợp phạm tội cụ thể. Đồng thời còn được áp dụng làm căn cứ để định tội cũng như quyết định hình phạt đối với người phạm tội.
Nếu thiểu MO DAU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong công cuộc dỗi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do hần dân, vì Nhân dân là một nhiệm vụ tiến tục dược Đại hội XI của Đảng kế thừa và phát triển, đồng thời tư tưởng chỉ đạo đó đã được hiển dịnh một cách dầy đủ tại Hiển pháp năm 2013, tại Hiến pháp năm 2013 quy định: ":. Vhả nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Viet Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” [35, Điều 2, Khoản 1]. Muốn thực hiện được nhiêm vụ đó chúng ta cần phát huy đân chủ, giữ vững kỷ cương, tăng cường pháp chế.
Trong lĩnh vực tư pháp bình sự, định hướng đó đòi hỏi thực hiện nghiêm.