Chương 1: Khái quát về hợp đồng tin dụng và giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tòa án theo quy định pháp luật Việt Nam Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân CHUONG 1: KHÁT QUÁT VE HOP DONG TÍN DỤNG VÀ GIẢI QUYET TRANH CHAP HỢP DONG TÍN DUNG TAI TOA AN 1. Khái niệm và đặc điểm hợp đồng tin dung Quy định của nước ta thì hoạt động của các tô chức tín dụng nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng về cơ bản cần thiết có những thay đôi nhằm đáp ứng với yêu cầu của tình hình mới. Hiện nay, trong hoạt động của các ngân hang thì hoạt động tín dụng là một hoạt động cơ bản. Tuy nhiên, chưa có một khái niệm pháp lý nào mang tính chất đồng bộ quy định về vấn dé này mà dưới góc độ nghiên cứu của các nhà nghiên cứu sẽ đưa ra một khái niệm riêng về vấn đề này.
Trên thực tế, có thể thấy rằng tín dụng nói chung đã phát triển từ lâu trên thế giới, nhưng là một khái niệm khá mới ở thị trường Việt Nam. Và trong thời đại hội nhập như hiện nay, việc vay nợ từ các ngân hàng, tô chức tài chính quốc tế đã trở thành một nhu cầu bức thiết đối với tất cả các quốc gia đang phát triển trên thế giới và Việt Nam chúng ta cũng không phải là ngoại lệ. Việc vay vốn này sẽ giúp các nước đang phát triển tăng trưởng kinh tế, đời sống của người dân cũng nhờ thế mà được nâng cao và cải thiện hơn. Trong hoạt động cho vay của các TCTD đối với khách hàng thường được giao kết thông qua các HDTD.
Vậy khái niệm HĐTD được hiểu như thế nào? Trước hết chúng ta đi tìm hiểu khái niệm Hợp đồng là gì? Hợp đồng được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên trong việc xác lập, thay đôi hoặc cham dứt quyền, nghĩa vụ dân sự [34, Điều 385]. Ngoài ra, Hợp đồng cũng có thê được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên có tư cách pháp nhân hoặc giữa những người có đầy đủ năng lực hành vi nhằm xác lập, thay đổi, phát triển hay chấm dứt quyền, quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên. Như vậy, chúng ta thấy rằng hợp đồng đó là sự thỏa thuận, tuy nhiên không phải mọi sự thỏa thuận đều là hợp đồng, mà sự thỏa thuận ở đây phải là sự ưng thuận của các bên dé đảm bảo được sự công băng, đúng pháp luật và phù hop với đạo đức. Do đó, một sự thỏa thuận mà không xuất phát và không thể hiện được ý chí đích thực của các bên thì sẽ không làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên.
Ngoài khái niệm về hợp đồng thì cần tìm hiểu thêm khái niệm về cấp tín dụng được quy định tại khoản 14 Điều 4 Luật các TCTD năm 2010. Từ đây, chúng ta có thé thay HĐTD có bản chất là hợp đồng vay tai sản - là sự thỏa thuận của các bên, theo đó một bên giao tài sản của mình cho người khác (được gọi là bên cho vay) và một bên nhận tài sản của người khác (được gọi là bên vay) khi đến hạn thì phải trả lại tài sản đã nhận đúng về số lượng, chất lượng và có thể phải trả lãi nếu như các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định [34, Điều 463]. Mặt khác, cho vay trong Luật các TCTD gồm có bên cho vay và bên vay, trong đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho bên vay một khoản tiền và họ thỏa thuận với nhau về nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Từ những tìm hiểu và phân tích trên đây, tác giả xin đưa ra cách hiểu về HĐTD là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa các bên, trong đó có một bên là tổ chức tín dụng (gọi là bên cho vay) và một bên là các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện do luật định (gọi là bên vay); theo đó bên cho vay thỏa thuận ứng trước một khoản tiền cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện bên vay hoản trả cả gốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm cho bên cho vay.
Với cách hiểu như trên, thì ngoài các đặc trưng vốn có của Hợp đồng nói chung thì HĐTD còn có một số đặc điểm riêng biệt như sau: - Thứ nhất, về chủ thể: Trong HĐTD luôn luôn tồn tại một bên chủ thể đó là các TCTD với tư cách là bên cho vay và một bên là các cá nhân, tô chức có day đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật dé được xếp vào bên vay. - Thứ hai, về tính rủi ro: Như đã nêu trong HĐTD bên cho vay sé ứng trước một khoản tiền cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định nên trong HĐTD tiềm an nguy cơ rủi ro rất lớn đối với bên cho vay. Thời hạn cho vay tỷ lệ thuận với nguy cơ rủi ro, tức là thời gian cho vay cảng dai thì rủi ro càng cao. Chính vì vậy mà các tranh chấp phát sinh từ HDTD thường chiếm tỷ lệ lớn hơn rất nhiều so với các loại hợp đồng khác.
- Thứ ba, quyền và nghĩa vụ của các bên trong HĐTD: Trong HĐTD, nghĩa vụ của bên cho vay được thực hiện trước, khi họ thực hiện xong nghĩa vụ của mình rồi thì mới có quyền yêu cầu bên vay thực hiện nghĩa vụ của họ. Tức là bên cho vay phải chuyển giao tiền trước, khi nào bên cho vay hoàn thành việc chuyên giao tiền vay theo đúng HĐTD cho bên vay thì khi đó họ mới có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện các nghĩa vụ đối với mình (như hoàn trả tiền vay, trả lãi,. Khái quát về tranh chấp hợp đồng tín dụng 1. Khái niệm và đặc điểm tranh chấp hợp dong tin dụng Trong quá trình giao kết hợp đồng, thực thi HDTD thì có thé xảy ra việc tranh chấp.
Vậy thế nào là tranh chấp HĐTD? Tác giả cho rằng muốn hiểu rõ khái niệm trên thì cần làm rõ tranh chấp hợp đồng là gì? Tranh chấp hợp đồng được hiểu là những sự mâu thuẫn, bat đồng ý kiến giữa các bên tham gia quan hệ hợp đồng liên quan đến việc thực hiện (hoặc không thực hiện) các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng. Dấu hiệu của một tranh chấp hợp đồng là: Đầu tiên, phải có một quan hệ hợp đồng tồn tại giữa các bên tranh chấp; thứ hai, có sự vi phạm (hoặc gia thiết là sự vi phạm) nghĩa vụ của một bên làm ảnh hưởng tới lợi ích của bên kia. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra khái niệm về tranh chấp HDTD như sau: Tranh chấp HĐTD là những tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực giao kết, thực hiện HĐTD. Đó là những mâu thuần, bat dong ÿ kiến giữa các bên tham 10 gia quan hệ hợp dong liên quan đến việc thực hiện (hoặc không thực hiện) các quyên và nghĩa vụ theo HĐTD nói chung.
Tranh chấp Hợp đồng tín dụng được tiến hành theo quy định của pháp luật tín dụng mà cụ thể là Luật các TCTD và các văn bản hướng dẫn thi hành có những đặc điểm như sau: Một là, tranh chấp HĐTD được phát sinh trực tiếp từ quan hệ HĐTD bởi vậy luôn thuộc quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp và phát sinh thông qua HĐTD giữa các bên. Đây là một trong những đặc điểm mang tính chất cơ bản và cu thé nhất của tranh chấp HĐTD ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Hai là, tranh chấp HDTD được thực hiện và gan lién voi yếu tố tai sản, lợi ích và gắn với yếu tố của quan hệ cho vay của các TCTD và các khách hàng ở nước ta. Đồng thời, đây là yếu tố gắn liền với lợi ích của các bên tranh chấp về HĐTD ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Ba là, nguyên tắc giải quyết các tranh chấp HĐTD cũng giống như với các tranh chấp hợp đồng dân sự thông thường là phải đảm bảo tính bình đăng, trên nguyên tắc tự thỏa thuận, đảm bảo lợi ích của các bên có liên quan và trong khuôn khổ pháp luật của các bên tham gia tranh chap.
Bốn là, các cơ quan có thâm quyền nhằm đảm bảo cho việc là thống nhất quan lý hoạt động giải quyết tranh chấp về HĐTD thông qua một số quy định cụ thé va rõ ràng trong lĩnh vực nay. Năm là, tranh chấp HĐTD thường phức tạp vì giá trị lớn, khả năng sinh lời cao do tài sản phát sinh trong quan hệ pháp lý về HĐTD nói chung. Sáu là, thủ tục pháp lý phức tạp do tính chất của HĐTD ở nước ta nói chung. Bảy là, giải quyết tranh chấp HĐTD phải tuân theo một số trình tự, thủ tục nhất định và được quy định một cách chặt chẽ thông qua các quy định của BLDS 2015, Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Luật các TCTD 2010, sửa đổi bổ sung và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Khái niệm pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp dong tín dụng Xây dựng và phát triển đất nước đã và đang có sự tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế đất nước. Đi đôi với quá trình đó thì việc hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp nói chung, tranh chấp tranh chấp HĐTD là điều vô cùng quan trọng. Đặc biệt chính là hoàn thiện các quy định pháp lý có liên quan trong quá trình tiến hành hoạt động giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực nói trên. Hiện nay, chưa có một khái niệm pháp lý về giải quyết tranh chấp tranh chấp HĐTD.
Về co bản khái niệm nay có thé hiểu rằng giải quyết tranh chấp HDTD là việc làm của các cơ quan, người có thâm quyền dựa vào pháp luật hiện hành đưa ra phương thức để hòa giải những bất đồng, mâu thuẫn, xung đột trong việc không thực hiện hoặc thực hiện một phần nghĩa vụ của các chủ thé trong HĐTD nhằm bảo vệ quyền và lợi ich hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo vệ trật tự kỉ cương của xã hội. Trong quá trình giải quyết tranh chấp về HĐTD có thể là tranh chấp dân sự, hoặc là tranh chấp thương mại (vì mục đích kinh doanh — lợi nhuận). Có rất nhiều quan điểm khi định nghĩa về khái niệm này.