CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHÔNG CHỊU TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO KHÔNG THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG 1. Khái niệm, đặc điểm của việc không chịu trách nhiệm dân sự do không thực hiện đúng hợp đồng 1. Khái niệm về việc không chịu trách nhiệm dân sự do không thực hiện đúng hợp đồng Khái niệm “hợp đồng”:Theo Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh: “Hợp đồng là một phạm trù đa nghĩa, có thể được hiểu theo nghĩa khách quan và chủ quan. Theo nghĩa khách quan, hợp đồng được hiểu là một chế định pháp lý quan trọng của pháp luật dân sự, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực trao đổi, dịch chuyển các lợi ích vật chất, dựa trên sự cam kết, thỏa thuận tự do và tự nguyện giữa các chủ thể có địa vị pháp lý bình đẳng với nhau.
Còn theo chủ quan, hợp đồng là một loại giao dịch dân sự làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia”.1 Về phương diện pháp lý: “Hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình”2. Pháp lệnh này hiện không còn hiệu lực, nên quy định trên không được sử dụng làm cơ sở pháp lý để xác định bản chất, đặc điểm của hợp đồng (kinh tế). Luật Thương mại 2005 không có định nghĩa cụ thể về hợp đồng thương mại nhưng có thể hiểu khái niệm hợp đồng thương mại như sau: “Hợp đồng thương mại 1 Trường ĐH Luật TP.HCM (2018), Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. 2 Điều 1, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989 8 là hợp đồng phát sinh trong hoạt động thương mại.
Hợp đồng thương mại là hình thức pháp lý của hành vi thương mại, đó là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên (trong đó ít nhất một bên là thương nhân hoặc các chủ thể có tư cách thương nhân) nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại”. Như vậy, điều kiện để được xem đó là hợp đồng thương mại khi một trong các bên tham gia phải là thương nhân thực hiện hoạt động thương mại với một hoặc các bên còn lại. Còn khái niệm hợp đồng theo BLDS năm 2015 không cần có hai điều kiện nêu trên. Hiện nay, hợp đồng có khái niệm là: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”3.
Khái niệm về “không thực hiện đúng hợp đồng”: Khái niệm thực hiện hợp đồng được ghi nhận như sau: “Là việc người có nghĩa vụ phải làm hoặc không được làm một công việc nhất định theo đúng nội dung của hợp đồng, qua đó thỏa mãn các quyền dân sự tương ứng của bên kia”4. Theo quy định: “Đối với hợp đồng đơn vụ, bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng như đã thoả thuận, chỉ được thực hiện trước hoặc sau thời hạn nếu được bên có quyền đồng ý”5. Về thực hiện hợp đồng song vụ:“1. Trong hợp đồng song vụ, khi các bên đã thoả thuận thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì mỗi bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn; không được hoãn thực hiện với lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với mình, trừ trường hợp quy định tại Điều 411 và Điều 413 của Bộ luật này.
3 Điều 385 BLDS năm 2015 4 Trường ĐH Luật TP.HCM (2018), Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tr. Trường hợp các bên không thoả thuận bên nào thực hiện nghĩa vụ trước thì các bên phải đồng thời thực hiện nghĩa vụ đối với nhau; nếu nghĩa vụ không thể thực hiện đồng thời thì nghĩa vụ nào khi thực hiện mất nhiều thời gian hơn thì nghĩa vụ đó phải được thực hiện trước”6. Với các quan điểm trên thì khái niệm về “không thực hiện đúng hợp đồng” làhành vi của một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đối với bên kia khi đã giao kết hợp đồng. Khái niệm về “trách nhiệm dân sự”:Theo giáo trình của Đại học Luật Hà Nội: “Trách nhiệm dân sự là một chế tài của ngành luật dân sự và trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ là một chế tài trong nghĩa vụ.
Đối với các chủ thể tham gia một quan hệ nghĩa vụ, bên cạnh việc để cho các bên tự giác thực hiện, pháp luật còn đặt ra các biện pháp cưỡng chế nhằm tác động đến ý thức tự giác của các chủ thể đồng thời để áp dụng khi có sự vi phạm nghĩa vụ dân sự”.7 Mặc khác,“Trách nhiệm dân sự là hậu quả bất lợi mà người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật phải gánh chịu. Hay nói cách khác, trách nhiệm dân sự là biện pháp chế tài do vi phạm pháp luật, gây cho người vi phạm những hậu quả tiêu cực dưới hình thức bị tước đoạt quyền chủ thể dân sự hoặc là đưa ra những nghĩa vụ dân sự mới, bổ sung”.8 Nghĩa vụ dân sự và căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự được quy định: “Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”9. 6 Điều 410 BLDS năm 2015 7 Trường ĐH Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, tập 2, tr. 8 Trường ĐH Luật TP.HCM (2018), Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tr.
9 Điều 274, BLDS năm 2015 10 Quy định về căn cứ phát sinh nghĩa vụ: “Nghĩa vụ phát sinh từ căn cứ sau đây: 1. Hành vi pháp lý đơn phương, 3. Thực hiện công việc không có uỷ quyền, 4. Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, 5.
Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật, 6. Căn cứ khác do pháp luật quy định”10. Với những quy định trên, trách nhiệm dân sự phát sinh từ việc không thực hiện nghĩa vụ dân sự. Việc không thực hiện nghĩa vụ của mình sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của người khác.
Cho nên, người gây thiệt hại đương nhiên phải chịu trách nhiệm dân sự để đền bù hoặc khôi phục lại quyền và lợi ích đã xâm phạm. Ví dụ, trong hợp đồng mua bán, A và B đã thỏa thuận mua bán 100 con gà. A mua 100 con gà với mục đích sản xuất thịt gà khô xuất khẩu. Tuy nhiên vì một lý do nào đó, B đã giao hàng không đúng số lượng đã thỏa thuận, dẫn đến việc A phải chịu những thiệt hại nặng nề.
BLDS năm 2015 đã quy định rõ về việc giao tài sản không đúng số lượng trong hợp đồng mua bán như sau: “1. Trường hợp bên bán giao tài sản với số lượng nhiều hơn số lượng đã thoả thuận thì bên mua có quyền nhận hoặc không nhận phần dôi ra; nếu nhận thì phải thanh toán đối với phần dôi ra theo giá được thỏa thuận trong hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.Trường hợp bên bán giao ít hơn số lượng đã thoả thuận thì bên mua có một trong các quyền sau đây: a) Nhận phần đã giao và định thời hạn để bên bán giao tiếp phần còn thiếu; b) Nhận phần đã giao và yêu cầu bồi thường thiệt hại; c) Hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu việc vi phạm làm cho bên mua không đạt được mục đích giao kết hợp đồng”. 10 Điều 275, BLDS năm 2015 11 Như vậy, trong tình huống hợp đồng mua bán gà trên, B đã vi phạm và B phải chịu trách nhiệm vật chất đối với hành vi của mình. Đó là bồi thường thiệt hại cho A khi việc giao sai số lượng đã làm A không đạt được mục đích giao kết hợp đồng.
Với những thông tin trên, tác giả có thể khái niệm “trách nhiệm dân sự” như sau: Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản được áp dụng đối với người vi phạm pháp luật dân sự nhằm bù đắp về tổn thất vật chất, tinh thần cho người bị hại. Khái niệm về “trách nhiệm dân sự do không thực hiện đúng hợp đồng”: Từ các khái niệm trên, tác giả cho rằng khái niệm về “trách nhiệm dân sự do không thực hiện đúng hợp đồng” được hiểu như sau: “Trách nhiệm dân sự do không thực hiện đúng hợp đồng là trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản được áp dụng đối với bên có hành vi vi phạm pháp luật dân sự nhằm bù đắp về tổn thất vật chất, tinh thần cho bên bị hại do không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đối với bên kia khi đã ký hợp đồng”. Tuy nhiên, với các yếu tố trên không đủ căn cứ để khẳng định việc bên không thực hiện đúng hợp đồng bị xem là vi phạm hợp đồng. Ví dụ, không thể coi là có hành vi vi phạm hợp đồng nếu bên thực hiện hành vi không có nghĩa vụ thực hiện hành vi đó.
Chẳng hạn, trong hợp đồng mua bán hàng hoá, nếu bên bán hàng giao hàng trước thời hạn quy định, bên mua hàng có quyền không nhận và hành vi không nhận này không bị coi là hành vi vi phạm hợp đồng bởi vì bên mua hàng không có nghĩa vụ phải nhận hàng trước thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng. Với ví dụ trên, không thể xem bên không thực hiện đúng hợp đồng vi phạm hợp đồng, từ đó không thể làm phát sinh trách nhiệm dân sự và điều này không thể hiểu rằng bên không thực hiện đúng hợp đồng là bên phải chịu trách nhiệm dân sự nhưng được miễn trách nhiệm do có căn cứ luật định.