CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ KHẲNG ĐỊNH CẦN ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU CAO SU LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. CÁC HỌC THUYẾT VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Vào cuối thế kỷ 15, các nhà kinh tế học cổ điển đã phát hiện ra vai trò rất quan trọng của thương mại quốc tế trong quá trình phát triển kinh tế quốc gia. Kể từ đó đến nay các nhà khoa học nhiều thế hệ tiếp sau đã nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện từng bước về mặt lý luận của vấn đề này. Sau đây là một số nội dung cơ bản của hệ thống lý luận về thương mại quốc tế.
Thuyết trọng thương. Chủ nghĩa trọng thương ra đời vào cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI ở Anh và Pháp sau đó lan rộng ra cả châu Âu trong bối cảnh trình độ sản xuất đã được nâng cao nhất định, công nghiệp phát triển, sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hóa…tạo điều kiện cho hoạt động thương mại phát triển. Lúc bấy giờ giới thương nhân được đề cao và chính họ đã đề xướng ra lý thuyết căn bản của trường phái kinh tế này. Nội dung cơ bản của thuyết trọng thương là coi trọng xuất khẩu, cho rằng xuất khẩu là con đường mang lại phồn vinh cho đất nước.
Tuy nhiên, quan điểm của các nhà kinh tế theo chủ nghĩa trọng thương còn hạn chế và rất cực đoan khi họ xem hoạt động thương mại quốc tế là một trò chơi có tổng lợi ích bằng không, giữa hai quốc gia giao thương nếu bên này có lợi thì bên kia phải chịu thiệt hại tương ứng. Do đó, họ đòi hỏi trong quan hệ ngoại thương phải luôn xuất siêu để đảm bảo lợi ích quốc gia. Mặt khác, họ chủ trương thực hiện mọi biện pháp có thể được để đạt thặng dư trong cán cân thương mại quốc tế, như: kêu gọi chính phủ bảo vệ mậu dịch, bảo hộ sản xuất trong nước bằng hàng rào thuế quan và cấm ngặt việc xuất khẩu nguyên liệu; đảm bảo độc quyền kinh doanh để dành ưu thế cạnh tranh với nước ngoài. Nhưng dẫu sao thì chủ nghĩa trọng thương cũng đã nêu lên được quan điểm rất tiến bộ thời bấy giờ là biết coi trọng thương mại quốc tế và cho rằng chính phủ có vai trò can thiệp nhất định vào hoạt động kinh tế, nhất là hoạt động ngoại thương, mở đường cho các học thuyết về thương mại quốc tế sau này.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của A.Smith: Đến giữa thế kỷ XVIII công nghiệp đã phát triển mạnh ở châu Âu, mậu dịch phát triển sâu rộng, tiền tệ được phát hành rộng rãi cùng với sự phát triển của hệ thống ngân hàng. Trong bối cảnh đó, nhà kinh tế học lỗi lạc người Anh là Adam Smith đã đưa ra quan điểm mới về thương mại quốc tế tích cực hơn so với phái trọng thương. Quan điểm của A.Smith đề cao vai trò cá nhân, ông cho rằng mọi người khi làm gì cũng nghĩ đến tư lợi của mình, nhưng điều đó cũng có lợi cho tập thể và quốc gia.
Do vậy, trong một quốc gia chính quyền không cần can thiệp vào hoạt động của cá nhân và doanh nghiệp, cứ để họ phát triển sẽ có lợi cho nền kinh tế. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A.Smith cho rằng hai quốc gia giao thương nên hợp tác trên cơ sở tự nguyện, hai bên cùng có lợi và dựa trên các sản phẩm có lợi thế tuyệt đối của mỗi quốc gia. Lợi thế tuyệt đối là sự khác biệt tuyệt đối về năng suất lao động (cao hơn) hay chi phí lao động (thấp hơn) để làm ra cùng loại sản phẩm. Mỗi quốc gia chỉ xuất khẩu những sản phẩm mà mình có lợi thế tuyệt đối và nhập khẩu những sản phẩm không có lợi thế tuyệt đối.
Theo lý thuyết này, sự chuyên môn hóa sản xuất những sản phẩm mà mình có lợi thế tuyệt đối sẽ giúp các quốc gia khai thác có hiệu quả hơn tài nguyên kinh tế của đất nước. Thông qua mậu dịch quốc tế, tổng khối lượng sản phẩm tiêu dùng sẽ tăng cao hơn và chi phí rẻ hơn so với trường hợp phải tự sản xuất hoàn toàn trong nước. Ưu điểm của lý thuyết lợi thế tuyệt đối chỉ rõ, mỗi quốc gia phải chuyên môn hóa sản phẩm mà mình có lợi thế tuyệt đối. Đồng thời thông qua trao đổi sản phẩm có lợi thế của nước khác để nâng cao hiệu quả nền kinh tế.
Điều cốt lõi của khái niệm này cho rằng: các quốc gia giao thương đều có lợi trong các hoạt động thương mại quốc tế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Học thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo: Nội dung của học thuyết lợi thế so sánh được phát biểu như sau: một quốc gia sẽ chuyên môn hóa sản xuất để xuất khẩu những sản phẩm mà mình có lợi thế so sánh và nhập khẩu trở lại những sản phẩm mà mình không có lợi thế so sánh. Khác với lợi thế tuyệt đối của A.Smith, lợi thế so sánh được hiểu là sự khác biệt tương đối về năng suất lao động (cao hơn) hay chi phí lao động (thấp hơn) để làm ra cùng loại sản phẩm.
Lý thuyết về lợi thế so sánh chỉ ra rằng: một quốc gia dù không có lợi thế tuyệt đối, nhưng có lợi thế so sánh (tương đối) về một loại sản phẩm nhất định và biết cách khai thác tốt các lợi thế này thông qua việc chuyên môn hóa sản xuất và thương mại quốc tế thì vẫn có thể nâng cao được hiệu quả của nền kinh tế của mình. Điều này đã khắc phục được nhược điểm cơ bản về lợi thế tuyệt đối của A.Smith và được coi là một trong những quy luật quan trọng nhất của kinh tế học phát triển. Lý thuyết về chi phí cơ hội của Haberler: Theo Haberler, chi phí cơ hội của một loại sản phẩm (X) là số lượng sản phẩm loại khác mà người ta phải hy sinh để có đủ tài nguyên làm tăng thêm một đơn vị sản phẩm X. Theo Haberler chi phí cơ hội không đổi trong mỗi quốc gia nhưng lại khác nhau giữa các nước.
Chính sự khác biệt này là cơ sở làm nảy sinh ra sự trao đổi mậu dịch quốc tế, nó cho phép mỗi quốc gia có thể tập trung chuyên môn hóa sản xuất hoàn toàn vào loại sản phẩm có chi phí cơ hội thấp, sau khi tiến hành trao đổi hàng hóa, lợi ích kinh tế của từng nước và toàn thế giới đều tăng lên. Luận điểm này cho rằng các nước có quy mô nền kinh tế nhỏ bé vẫn có thể chuyên môn hóa sản xuất hoàn toàn vào các sản phẩm có lợi thế so sánh, thông qua trao đổi mậu dịch quốc tế vẫn nâng cao hiệu quả nền kinh tế của mình. Tuy nhiên, họ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn do nền kinh tế bị phụ thuộc nhiều vào ngoại thương trong khi giá cả và tỷ giá trao đổi hàng hóa do các nước có quy mô sản xuất lớn quy định LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Lý thuyết hiện đại về thương mại quốc tế của Heckscher- Ohlin: Trong thế kỷ 20 nhiều lý thuyết hiện đại về thương mại quốc tế lần lượt xuất hiện nhằm khắc phục nhược điểm của những lý thuyết cổ điển đã nêu trên, trong đó nổi bật là tác phẩm “Thương mại liên khu vực và quốc tế” xuất bản năm 1993 của hai nhà kinh tế học Thụy Điển Eli Heckscher và Bertil Ohlin.
Lý thuyết này cho rằng để làm ra sản phẩm người ta phải sử dụng kết hợp các yếu tố sản xuất theo những tỷ lệ cân đối khác nhau nhất định. Trong điều kiện kinh tế mở, mỗi nước sẽ hướng đến chuyên môn hóa sản xuất vào những ngành mà nước mình có thể sử dụng các yếu tố sản xuất một cách thuận lợi nhất, nguồn cung cấp dồi dào, chi phí rẻ, chất lượng hàng hóa sản xuất ra tốt hơn so với các nước khác. Như vậy, theo quy luật tỷ lệ cân đối các yếu tố sản xuất thì sự dư thừa hay khan hiếm các yếu tố sản xuất quyết định mô hình thương mại quốc tế của mỗi quốc gia. Trong đó, một quốc gia sẽ chuyên môn hóa sản xuất để xuất khẩu sản phẩm thâm dụng yếu tố sản xuất mà quốc gia đó dư thừa tương đối và nhập khẩu sản phẩm thâm dụng yếu tố sản xuất mà quốc gia đó khan hiếm tương đối.
Thương mại quốc tế sẽ dẫn đến sự cân bằng tương đối và cân bằng tuyệt đối giá cả các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia giao thương. Từ các cơ sở lý luận trên chúng ta nhận thấy rằng Việt Nam có thể chuyên môn hóa để đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà nước ta có ưu thế và vị thế trên thị trường đó là cao su. Nước ta có nguồn cung cao su dồi dào, chi phí rẻ và chất lượng không thua kém các nước khác. Để hiểu thêm về vị thế của ngành cao su Việt Nam trên thị trường thế giới, tác giả xin giới thiệu tổng quan về thị trường cao su thế giới và những tác động của nó đến ngành cao su Việt Nam.
GIỚI THIỆU VỀ CAO SU 1. Cao su và vai trò của nó Cây cao su có tên khoa học là HEVEA BRASILIENSIS thuộc họ Eu Phorbiace, được con người biết đến trong tình trạng hoang dã vào khoảng thế kỷ 15 tại vùng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 châu thổ rộng lớn của sông Amazone thuộc Nam Mỹ. Cuối thế kỷ 19, cây cao su bắt đầu được nhân trồng với quy mô lớn ở nhiều nước trên thế giới. Cây cao su được bác sĩ Yersin đưa vào trồng thử nghiệm ở Việt Nam từ năm 1897.
Cây cao su cung cấp cho con người nhiều sản phẩm đặc biệt như: mủ cao su, gỗ cao su, và dầu hạt cao su. Đó là các nguyên liệu chủ yếu, không thể thiếu của nhiều ngành công nghiệp quan trọng trong nền kinh tế thế giới và đời sống con người. Đặc tính hơn hẳn của sản phẩm cao su tự nhiên so với cao su tổng hợp là tính co dãn, đàn hồi, bám dính, chịu lạnh tốt, chống được đứt gãy, dễ gia công chế biến…vì thế cao su tự nhiên được coi là một trong những nguyên liệu không thể thiếu được trong công nghiệp cơ khí, đặc biệt là ngành cơ khí chế tạo xe máy, xe hơi. Thị trường cao su trên thế giới.
Cung cao su thế giới. Diện tích cao su tự nhiên của một số quốc gia năm 2005-2009 Đvt: nghìn ha Nguồn: Báo cáo ngành cao su Quý 3/2009, AGROINFO LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.