chương 1, tác giả sẽ tổng hợp những lý luận căn bản nhất về nợ xấu, các nguyên nhân phát sinh nợ xấu, các tác động của nợ xấu, biện pháp xử lý nợ xấu của NHTM và kinh nghiệm xử lý nợ xấu của các nước trên thế giới để làm khung lý thuyết cơ sở cho vấn đề nghiên cứu. TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU 1. Các quan điểm về về nợ xấu Quan điểm về nợ xấu khác nhau ở mỗi quốc gia và trong một nền kinh tế dưới góc nhìn của các chủ thể khác nhau thì quan điểm về nợ xấu cũng khác nhau, có thể nhắc tới một số quan điểm như sau: Theo quan điểm của Ngân hàng trung ương Châu Âu – ECB (2005) Nợ xấu là những khoản vay không có khả năng thu hồi như: - Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ người mắc nợ; - Người mắc nợ trốn hoặc mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ; - Những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ. Nợ xấu là những khoản cho vay có thể không được thu hồi đầy đủ cho ngân hàng: Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản đưa ra để thế chấp không đủ để trả nợ.
Điều đó đồng nghĩa với việc ngân hàng không thể thu hồi đầy đủ món nợ vì người mắc nợ rất khó kiếm được lợi nhuận từ công việc kinh doanh hoặc người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng để thanh toán hoặc hoàn cảnh chỉ rõ rằng phần lớn tiền nợ sẽ không thể thu hồi được. 12 Như vậy, quan điểm về nợ xấu của ECB được tiếp cận dựa trên kết quả thu hồi nợ của ngân hàng và được xác định qua hai yếu tố: (i) khoản vay không có khả năng thu hồi và (ii) mặc dù thu hồi nhưng giá trị thu hồi không đầy đủ. Theo quan điểm của quỹ tiền tệ quốc tế – IMF (2005) Định nghĩa về nợ xấu được IMF đưa ra như sau: “Một khoản cho vay được coi là không có hiệu quả (nợ xấu) khi các khoản thanh toán lãi và/hoặc gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, tái cơ cấu hay trì hoãn theo thoải thuận, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ về việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ (chẳng hạn như một người đệ đơn xin phá sản)”. Với quan điểm về nợ xấu của IMF được tiếp cận dựa trên thời gian quá hạn và khả năng trả nợ của khách hàng.
Về cơ bản, nợ xấu theo quan điểm này được xác định dựa trên hai yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ bị nghi ngờ. Như vậy, so với quan điểm nợ xấu của ECB, thì quan điểm nợ xấu của IMF cũng dựa trên kết quả thu hồi nợ của ngân hàng nhưng có bổ sung thêm yếu tố về thời hạn trả nợ. Đây được coi là định nghĩa được áp dụng phổ biến trên thế giới. Theo quan điểm của Ngân hàng nhà nước Việt Nam – SBV Theo thông tư số 02/2013/TT – NHNN ngày 21/01/2013 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong việc hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì nợ xấu được định nghĩa như sau: “Nợ xấu là nợ thuộc các nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), 4 (Nợ nghi ngờ) và 5 (Nợ có khả năng mất vốn)” (điều 3 khoản 8).
Các nhóm nợ được phân loại theo Điều 10 và Điều 11 của Thông tư này, cụ thể như sau: 13 Phân loại nợ theo Điều 10 chủ yếu dựa trên thời gian quá hạn của các khoản nợ như: - Nợ nhóm 3 bao gồm nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày. - Nợ nhóm 4 bao gồm nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày. - Nợ nhóm 5 bao gồm nợ quá hạn trên 360 ngày. Phân loại nợ theo Điều 11 chủ yếu dựa trên khả năng trả nợ của khách hàng như: - Nợ nhóm 3 bao gồm các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn.
Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất. Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết. - Nợ nhóm 4 bao gồm các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao. Các cam kết ngoại bảng mà khả năng khách hàng không thực hiện cam kết là rất cao.
- Nợ nhóm 5 bao gồm các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn. Các cam kết ngoại bảng mà khách hàng không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ cam kết. Như vậy, nợ xấu theo quan điểm của NHNN Việt Nam cũng được xác định dựa trên hai yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ bị nghi ngờ. Từ những quan điểm trên cho thấy có sự tương đồng trong cách nhận thức về nợ xấu giữa các định chế tài chính trên thế giới.
Theo đó, một khoản nợ được coi là nợ xấu nếu xuất hiện một hoặc cả hai dấu hiệu sau: Quá hạn trả nợ gốc lãi và khả năng trả nợ khoản vay đáng nghi ngờ. Thậm chí một khoản vay trong hạn hoặc mới cho vay nhưng có dấu hiệu chứng tỏ khả năng trả nợ của khoản vay là đáng nghi ngờ cũng có thể coi là một khoản nợ xấu. Nguyên nhân phát sinh nợ xấu Đối với một nền kinh tế, một hệ thống tài chính ngân hàng, nợ xấu phát sinh tập trung chủ yếu vào các nguyên nhân sau: Nguyên nhân khách quan Môi trường kinh tế Các hoạt động sản xuất kinh doanh luôn phải chịu tác động trực tiếp hay gián tiếp của môi trường kinh tế xã hội như: sự thay đổi về cơ chế lãi suất, tỷ giá, chính sách xuất nhập khẩu, hàng tiêu dùng, các cuộc khủng hoàng kinh tế thế giới và khu vực v. Nếu một nền kinh tế tăng trưởng lành mạnh, tiềm năng sản xuất và tiêu dùng của xã hội lớn thì hoạt động sản xuất kinh doanh có điều kiện tốt để phát triển.
Nhưng trong một nền kinh tế bị khủng hoảng, tỷ lệ lạm phát cao, đầu tư giảm sút, sản xuất bị đình trệ, thu nhập của mọi thành viên trong xã hội đều giảm dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ vay và gây tác động xấu đến khả năng thu hồi vốn của Ngân hàng. Bên cạnh đó, những chính sách không hiệu quả hoặc nhà nước thay đổi chính sách tác động đến một số ngành, một số doanh nghiệp sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tại NHTM. Như chính sách đóng cửa rừng những năm cuối thập niên 90 đã ảnh hưởng không ít đến một số doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực chế biến lâm sản. Chính sách xây dựng các nhà máy đường, chính sách dữ trữ cà phê.
Sự thay đổi hoặc áp dụng các chính sách không hiệu quả nhiều khi gây ra những khối lượng nợ xấu rất lớn cho các ngân hàng. Điều này cũng thường xảy ra đối với các nền kinh tế chuyển đổi. Vì quá trình vừa làm vừa rút kinh nghiệm không tránh khỏi những điều bất hợp lý mà không thể lường đoán trước được. Môi trường pháp lý Trong hoạt động ngân hàng đặc biệt là hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, vì vậy để giảm thiểu rủi ro thì cần sự hậu thuẫn của hệ thống pháp luật.
Thật vậy nếu một hệ thống pháp luật đồng bộ và hoàn thiện sẽ tạo tiền đề cho hoạt 15 động của hệ thống ngân hàng được an toàn và lành mạnh. Còn ngược lại, nếu hệ thống pháp luật không đồng bộ, thiếu tính khả thi thì hoạt động của hệ thống ngân hàng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Đối với Việt Nam, mặc dù trong những năm qua chúng ta rất chú ý đến việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tuy nhiên thực tế hệ thống pháp luật quốc gia với các bộ luật và văn bản dưới luật vẫn chưa được đồng bộ, tính khả thi chưa cao là một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần gây ra nợ xấu. Bên cạnh đó, một số các cơ chế chính sách về xử lý tài sản còn bất cập dẫn đến khó khăn trong việc xử lý tranh chấp về tài sản đảm bảo của các TCTD.
Tình hình kinh doanh của khách hàng Các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài dẫn đến việc không hoàn trả được các khoản công nợ, nhất là các khoản nợ vay của ngân hàng. Mặc khác, năng lực điều hành, quản lý kinh doanh của chủ doanh nghiệp vay vốn yếu kém cũng làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh từ đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ ngân hàng. Đạo đức khách hàng Một số doanh nghiệp cố ý cung cấp không chính xác số liệu tài chính, gây sai lệch trong việc thẩm định và cấp tín dụng dẫn đến việc thu hồi nợ của ngân hàng gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp sử dụng vốn vay không đúng mục đích để kiếm lời, lợi dụng kẽ hở của pháp luật để tính toán, lừa đảo và không có ý định trả nợ cho ngân hàng.
Nguyên nhân chủ quan Tình hình nợ xấu hiện nay có một phần lớn nguyên nhân đến từ sự yếu kém của nội bộ ngân hàng, tổ chức tín dụng, như: Chính sách tín dụng Việc tăng trưởng nóng tín dụng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình hình nợ xấu tăng cao. Để đạt được được kế hoạch kinh doanh, thu hút khách 16 hàng và chiếm lĩnh thị trường, một số ngân hàng đã tìm cách thúc đẩy tín dụng bằng việc nới lỏng tiêu chuẩn cho vay, bỏ qua một số bước trong quy trình tín dụng, cùng với cơ chế cho vay được đơn giản hóa đã dẫn đến tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cho hoạt động ngân hàng.