CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG 1.1: Tổng quan về tập đoàn kinh tế 1.1: Khái niệm về tập đoàn kinh tế Quan điểm về tập đoàn kinh tế xuất hiện tại nhiều nước trên thế giới như: các nước phương Tây, Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan và tại Việt Nam. Khái niệm TĐKT đã xuất hiện từ rất sớm cùng với quá trình tích tụ và tập trung tư bản từ nửa cuối thế kỷ 19 khi nền sản xuất hàng hóa thế giới phát triển mạnh mẽ nhờ sự tác động trực tiếp của cuộc cách mạng công nghiệp của các nước Tây Âu và Bắc Mỹ. Nhiều công ty, doanh nghiệp trước sức ép cạnh tranh khốc liệt về vốn, năng lực sản xuất, năng suất lao động nên thị phần đã bị chèn ép, thôn tính hoặc tự nguyện tìm cách “chung sống hòa bình” với các công ty doanh nghiệp khác trên cơ sở liên minh hay tổ hợp để phân chia thị trường và khai thác những tiềm năng, lợi thế tương đối của từng công ty, doanh nghiệp trong một vỏ bọc vững chắc hơn bởi một liên minh rộng. Khái niệm của TĐKT tại một số nơi trên thế giới: + Ở các nước phương Tây, “Tập đoàn kinh tế” được hiểu như là một tổ hợp các công ty hay chi nhánh góp cổ phần chịu kiểm soát của công ty mẹ hoặc “ Tập đoàn kinh tế” gồm một công ty mẹ và các công ty khác mà công ty mẹ kiểm soát hay tham gia góp vốn, mỗi công ty con cũng có thể kiểm soát các công ty khác hay tham gia các tổ hợp.
+ Tại Nhật Bản, “Tập đoàn kinh tế (Keiretsu) là một nhóm doanh nghiệp độc lập về mặt pháp lý nắm giữ cổ phần của nhau và thiết lập mật thiết về nguồn vốn, nguồn nhân lực, công nghệ, cung ứng nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm Nguyễn Thái Hoàng Anh 2 hay tập đoàn bao gồm các công ty có sự liên kết không chặt chẽ được tổ chức quanh một ngân hàng để phục vụ lợi ích các bên. +Tại Malaysia và Thái Lan, ‘‘Tập đoàn kinh tế ’’ được xác định là tổ hợp kinh doanh với các mối quan hệ đầu tư, liên doanh, liên kết và hợp đồng. Nòng cốt của tập đoàn là cơ cấu công ty mẹ - công ty con tạo thành một hệ thống liên kết chặt chẽ trong tổ chức và trong hoạt động. Các thành viên trong tập đoàn đều có tư cách pháp nhân độc lập và thường hoạt động trên cùng một mặt bằng pháp lý và là đầu mối liên kết các công ty con với nhau là công ty mẹ, các doanh nghiệp thành viên tham gia liên kết tập đoàn phải có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của một pháp nhân độc lập.
Bản thân tập đoàn không có tư cách pháp nhân. + Tại Việt Nam: Theo Luật doanh nghiệp 2005, điều 149 thì “TĐKT là nhóm công ty có quy mô lớn. Chính phủ quy định hướng dẫn tiêu chí, tổ chức quản lý và hoạt động của TĐKT’’. Và theo điều 146 của luật này cũng chỉ rõ: “Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác.
Nhóm công ty bao gồm các hình thức sau đây: Công ty mẹ - công ty con TĐKT Các hình thức khác” Mặc dù còn có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng “TĐKT” có thể được hiểu: “là tổ hợp các doanh nghiệp hoạt động trong một hay nhiều lĩnh vực khác nhau, ở phạm vi một hay nhiều nước; trong đó có một doanh nghiệp (công ty mẹ) nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các doanh nghiệp khác (công ty con) về mặt tài chính và chiến lược phát triển. TĐKT là cơ cấu Nguyễn Thái Hoàng Anh 3 tổ chức vừa có chức năng kinh doanh, vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, nâng cao khả năng cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận trong hoạt động sản xuất kinh doanh ”. “TĐKT” không phải là một hình thức pháp lý cụ thể (không có tư cách pháp nhân) mà chỉ là tổ hợp các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân.2: Các hình thức liên kết tập đoàn kinh tế Về phạm vi liên kết: Liên kết ngang: là liên kết các doanh nghiệp trong cùng một ngành nghề kinh doanh. Hình thức này hiện nay không còn phổ biến do các doanh nghiệp phải đáp ứng nhu cầu của thị trường ngày càng phong phú, đa dạng và biến đổi nhanh chóng.
Nếu áp dụng hình thức này khó đem lại hiệu quả cao. Các chính phủ thường hạn chế hình thức này vì nó dễ tạo xu hướng độc quyền, đi ngược nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường. Liên kết dọc: là liên kết các doanh nghiệp trong cùng một dây chuyền công nghệ. Hình thức này hiện nay vẫn còn phổ biến trên thế giới vì chúng hoạt động có hiệu quả và có thể mở rộng hoạt động kinh doanh sang nhiều quốc gia khác.
Tuy nhiên, để có thể phát triển theo hình thức này cần có một công ty có tiềm lực về tài chính, có uy tín để quản lý, kiểm soát và đảm bảo tín dụng cho cả tập đoàn. Liên kết hỗn hợp: là liên kết các doanh nghiệp trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh kể cả những ngành, lĩnh vực không có liên quan. Hình thức này đang được ưu chuộng trên thế giới và trở thành xu hướng các tập đoàn hiện nay. Cơ cấu tập đoàn bao gồm một ngân hàng hoặc một công ty tài chính lớn và các doanh nghiệp sản xuất, thương mại, trong đó hoạt động tài Nguyễn Thái Hoàng Anh 4 chính, ngân hàng xuyên suốt, bao trùm mọi hoạt động kinh doanh của tập đoàn.
+ Về trình độ liên kết: Liên kết mềm: xuất phát từ Châu Âu, đặc biệt là ở Đức. Đây là hình thức tập đoàn của các doanh nghiệp độc lập, cùng sản xuất, kinh doanh một loại sản phẩm hoặc dịch vụ. Các doanh nghiệp liên kết lại để tận dụng được các ưu thế của tập đoàn. Họ hợp tác sản xuất- kinh doanh với nhau thông qua một hiệp định chung nhằm hạn chế cạnh tranh bằng việc thống nhất về giá cả, dịch vụ, hoặc thỏa thuận về lượng sản phẩm tiêu thụ chung, giá cả cung ứng.
Nguyên nhân thúc đẩy sự liên kết và liên minh giữa các doanh nghiệp là do những thay đổi của nền kinh tế trong nước và trên thế giới, môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, các hoạt động kinh doanh ngày càng mở rộng, đòi hỏi quy mô vốn lớn và trình độ công nghệ cao hơn.Vì vậy, các doanh nghiệp liên kết lại để tận dụng được ưu thế của quy mô tập đoàn. Liên kết cứng: các doanh nghiệp thành viên kết hợp trong tổ chức thống nhất và mất tính độc lập về tài chính, sản xuất và thương mại. Các doanh nghiệp thành viên hoạt động trong cùng một ngành nghề hoặc có liên quan với nhau về chu kỳ công nghệ sản xuất, bổ sung cho nhau trong quá trình sản xuất, kinh doanh liên tục, thống nhất theo chiến lược chung của tập đoàn. Trong đó, công ty mẹ có lợi thế nắm giữ cổ phần chi phối các công ty để giữ quyền lãnh đạo.
Nguyễn Thái Hoàng Anh 5 Liên kết hỗn hợp: là sự liên kết của cả hai loại liên kết trên. Đây là hình thức phát triển cao nhất của TĐKT. Tập đoàn được hình thành trên cơ sở xác lập và kiểm soát thống nhất về tài chính. Các doanh nghiệp thành viên chịu sự chi phối về tài chính của một công ty là công ty mẹ (Holding Company) thông qua quyền sở hữu cổ phiếu.
Hoạt động của cả tập đoàn và các công ty con được mở rộng ra rất nhiều lĩnh vực từ tài chính đến hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ khác nhau và giữa các công ty con trong tập đoàn không nhất thiết phải có mối liên hệ về sản phẩm, công nghệ hay kỹ thuật. Hình thức liên kết này đang trở nên phổ biến. + Về hình thức biểu hiện: Cartel là một nhóm các nhà sản xuất độc lập về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhưng có chung mục đích là tăng lợi nhuận bằng cách thoả thuận thống nhất về giá cả, phân chia thị trường tiêu thụ, nguyên liệu và các hạn chế khác nhằm hạn chế sự cạnh tranh. Đây là hình thức liên kết theo chiều ngang.
Cartel thường có mặt tại những thị trường bị chi phối mạnh bởi một số loại hàng hoá nhất định, nơi có ít người bán và thường đòi hỏi những sản phẩm có tính đồng nhất cao. Nhược điểm của hình thức này là dễ bị tan vỡ do sản xuất và tiêu thụ vẫn tiến hành độc lập nên một số thành viên có thể phá bỏ hợp đồng. Syndicate là tổ chức liên minh giữa các nhà tư bản độc lập về pháp lý nhưng không độc lập về thương mại mà có một ban quản trị chung quản lý việc tiêu thụ sản phẩm. Đây là loại liên minh độc quyền cao hơn, ổn định hơn so với Cartel.
Trust có quy mô lớn hơn Cartel và Syndicate. Các thành viên tham gia hoàn toàn mất tính độc lập, họ chỉ là những công ty cổ phần. Nguyễn Thái Hoàng Anh 6 Consortium là liên minh giữa các nhà tư bản độc quyền đa ngành. Các thành viên tham gia có mối liên hệ với nhau về mặt kinh tế, kỹ thuật.
Công ty mẹ đầu tư vào các công ty khác thành công ty con nhằm tạo thế lực tài chính mạnh để kinh doanh. Hình thức này gồm cả liên kết dọc và liên kết ngang giữa các doanh nghiệp sản xuất cùng loại sản phẩm. Conglomerate là tập đoàn kinh doanh đa ngành, các công ty thành viên có ít mối quan hệ hoặc không có mối quan hệ về công nghệ nhưng có quan hệ chặt chẽ về tài chính. Tập đoàn này thực chất là một tổ chức tài chính đầu tư vào các công ty kinh doanh để tạo ra một tổ hợp doanh nghiệp tài chính - công nghiệp để hỗ trợ vốn đầu tư cho các công ty thành viên hoạt động có hiệu quả.
Concern là một tổ chức TĐKT tồn tại dưới hình thức công ty mẹ đầu tư vào các công ty con và điều hành hoạt động của tập đoàn. Mục tiêu hình thành tập đoàn là tạo sức mạnh tài chính để phát triển kinh doanh, hạn chế rủi ro, hỗ trợ mạnh mẽ nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới, áp dụng phương pháp quản lý hiện đại. Các công ty con hoạt động trong nhiều lĩnh vực như sản xuất, thương mại, ngoại thương, dịch vụ có liên quan; chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi hoạt động nhằm thực hiện lợi ích chung của tập đoàn thông qua các hợp đồng kinh tế, các khoản vay tín dụng hoặc đầu tư.