CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG VÀ DỊCH VỤ INTERNET BANKING 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chúng ta đang ở giai đoạn mà ngành truyền thông phát triển nhanh chóng, với số lượng hàng trăm kênh truyền hình ra đời. Người xem có thể lựa chọn kênh truyền hình mà mình yêu thích, khán giả phân khúc thành nhiều nhóm khác nhau. Ngoài ra, với tốc độ phát triển nhanh chóng của internet và mạng xã hội, người dân cũng thay đổi thói quen từ đọc báo giấy chuyển sang đọc báo mạng, hoặc từ xem truyền hình qua ti vi chuyển sang xem trên internet dẫn đến khán giả được phân khúc đa dạng.
Việc truyền thông để quảng bá sản phẩm của mình đến nhiều người tiêu dùng đối mặt với nhiều khó khăn. Ngân sách quảng cáo thì ngày càng tăng mà hiệu quả quảng cáo ngày càng giảm sút. Các doanh nghiệp phải tìm nhiều cách khác nhau để quảng bá sản phẩm và thương hiệu của mình. Tại Việt Nam, hoạt động quảng cáo thực sự bắt đầu phát triển sau khi Mỹ bỏ cấm vận kinh tế của Việt Nam vào tháng 5 năm 1994.
Hàng loạt công ty lớn của Mỹ và nước ngoài đầu tư đầu tư vào Việt Nam như Coca cola, Pepsi, công ty sản xuất về hóa mỹ phẩm P&G, Unilever,… Đây là những công ty có ngân sách quảng cáo lớn góp phần phát triển thị trường quảng cáo ở Việt Nam. Các công ty này gây ảnh hưởng khá lớn đến cách thức các doanh nghiệp Việt Nam làm quảng cáo. Các hoạt động truyền hình có trả tiền tại Việt Nam ra đời từ năm 2003, khi bắt đầu có truyền hình cáp ra đời, các công ty như truyền hình cáp SCTV, HTVC, VTVCab, và VTC là những đơn vị đầu tiên cung cấp truyền hình mặt đất và truyền hình vệ tinh, Gần đây khoảng năm 2009 có sự ra đời của K+ (là đơn vị liên doanh của truyền hình cáp VTV với tập đoàn truyền thông Pháp Cannal+) và An vien group. Việt Nam là một quốc gia có nhiều kênh truyền hình, với mỗi tỉnh thành có một đài truyền hình và ít nhất là có một kênh truyền hình, ở trung ương VTV có nhiều kênh truyền hình phát sóng toàn quốc và quốc tế; ngoài ra còn có VTC, VOV, SCTV, HTVC, AVG, K+ mỗi đơn vị sở hữu nhiều kênh truyền hình cáp và kỹ thuật Luan van 6 số.
Đây là kênh truyền thông khá hiệu quả đối với thói quen xem truyền hình của người Việt Nam. Thị trường nội dung truyền hình là thị trường có tốc độ phát triển nhanh trong đó chủ yếu là các truyền hình việt phải trả cho các nhà cung cấp phim truyện từ các nước như Hàn quốc, Trung quốc, Mỹ, Nhật,… hoặc các bản quyền các giải bóng đá quốc tế lớn. Những năm gần đây hàng loạt công ty trong nước đầu tư vào lĩnh vực sản xuất các chương trình truyền thông qua chính sách xã hội hóa, các chương trình truyền hình được hợp tác sản xuất với các công ty tư nhân. Hiện tại các đài chủ yếu tập trung vào sản xuất các chương trình tin tức, phóng sự và chương trình đối thoại.
Các chương trình phim truyện và trò chơi chủ yếu là do các công ty tư nhân sản xuất. Thị trường này chủ yếu là phụ thuộc vào thị trường quảng cáo. Khi thị trường quảng cáo tăng lên thị chí phí dành cho sản xuất các chương trình truyền hình cũng tăng lên. Bên cạnh đó, Hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam hiện nay đã có nhiều thay đổi tích cực trong việc phát triển các dịch vụ của mình để phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.
Việc đưa các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng điện tử vào ngân hàng làm đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng truyền thống, mở ra nhiều cơ hội mới, khả năng cạnh tranh mới. Đặc biệt, sự xuất hiện của dịch vụ Internet banking là một thành quả hữu hiệu, đã phá vỡ những rào cản và giới hạn về không gian, thời gian trong việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Dịch vụ Internet banking ra đời là một xu thế tất yếu, đáp ứng được nhu cầu thanh toán qua mạng internet của người dân Việt Nam. Rõ ràng, khi Internet đã xuất hiện hầu hết ở mọi cơ quan, công sở trong thời gian vừa qua thì dịch vụ ngân hàng điện tử trở nên một xu hướng phát triển tất yếu, nhiều tiềm năng tại Việt Nam.
Ngân hàng điện tử là một trong nhiều ứng dụng công nghệ hiện đại của ngân hàng với khả năng xử lý thông tin trực tuyến, dịch vụ ngân hàng điện tử cung cấp các dịch vụ thanh toán và truy vấn trực tuyến cho mọi đối tượng khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Các dịch vụ này mang lại nhiều thuận tiện cho người sử dụng, giúp khách hàng tiết kiệm thời gian và giao dịch đơn giản. Luan van 7 Internet banking được xây dựng như một kênh giao dịch tài chính - ngân hàng thông qua Internet dành cho mọi đối tượng khách hàng cá nhân và doanh nghiệp; giúp khách hàng làm chủ nguồn tài chính mọi lúc, mọi nơi. Với số lượng người sử dụng Internet ngày càng tăng như trên là dấu hiệu đáng mừng không những cho ngành công nghệ thông tin mà cho còn tạo cơ hội cho ngành ngân hàng để phát triển dịch vụ Internet banking.
Thực tế ở Việt Nam hiện nay cho thấy, các NHTM đã nhận thức được lợi ích to lớn của Internet banking nên rất quan tâm tới sự phát triển dịch vụ này, các ngân hàng đã và đang chạy đua quyết liệt để chiếm lĩnh thị phần. Tuy nhiên, do thói quen tiêu dùng tiền mặt cũng như tâm lý còn e ngại việc bảo mật thông tin cá nhân, và sợ bị mất cấp thông tin tài khoản khi sử dụng dịch vụ Internet banking của người dân Việt Nam nên dịch vụ ngân hàng này chưa phát triển mạnh: - Đối với các nghiên cứu về nhận thức của khách hàng đối với việc bảo mật thông tin khi sử dụng Internet banking: + Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Bảo Khánh (2014), đã chỉ ra rằng khách hàng cảm thấy lo sợ và e ngại khi sử dụng dịch vụ Internet banking bởi vì họ sợ tài khoản ngân hàng và thông tin cá nhân bị đánh cấp với hacker. Nguyễn Duy Thanh, Cao Hào Thi (2011), cũng cho rằng, yếu tố rủi ro, bảo mật trong giao dịch là một trong những yếu tố quan trọng khiến khách hàng cân nhắc nên chấp nhận sử dụng Internet banking hay không bởi vì họ sợ thông tin bị mất cấp. - Đối với các nghiên cứu về thói quen thích sử dụng tiền mặt trong giao dịch hơn dịch vụ ngân hàng điện tử của khách hàng: + Nông Thị Như Mai (2015), đã cho rằng thói quen sử dụng tiền mặt của khách hàng vẫn chưa thể thay đổi được.
Doanh số dùng thẻ để rút tiền mặt qua ATM chiếm tỷ trọng quá cao (hơn 83,2% các giao dịch qua thẻ ATM là rút tiền mặt), doanh số thanh toán qua đơn vị chấp nhận thẻ và dịch vụ Internet banking chiếm tỷ lệ quá ít. Luan van 8 + Matt Keating, Giám đốc các kênh ngân hàng trực tiếp của Ngân hàng Quốc tế Việt Nam năm 2013 cho rằng thói quen sử dụng tiền mặt của khách hàng Việt Nam đã cản trở trong quá trình phát triển dịch vụ internet banking, và ông cũng lý giải tại sao người dùng Việt Nam tại sao thích sử dụng tiền mặt trong giao dịch là vì họ cảm giác an toàn khi cầm, giữ được trong tay. Với những vấn đề về nhận thức cũng như tâm lý của của người Việt Nam đối với dịch vụ internet banking thì truyền thông là hoạt động vô cùng quan trọng. Truyền thông rõ ràng lợi ích cũng như điểm ưu việt, khác biệt của từng ngân hàng sẽ giúp cho các người tiêu dùng Việt Nam dễ dàng hơn trong việc lựa chọn.
Ngoài ra, truyền thông cũng sẽ là công cụ để mở rộng thị trường cực kỳ tiềm năng ở đất nước đang phát triển với gần 100 triệu dân này. Cơ sở lý luận về hoạt động truyền thông 1. Khái niệm Hoạt động Marketing hiện đại rất quan tâm đến chiến lược xúc tiến hỗn hợp. Đây là một trong bốn công cụ Marketing–mix mà doanh nghiệp có thể sử dụng để tác dụng vào thị trường mục tiêu nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.
Bản chất của hoạt động truyền thông chính là truyền thông về sản phẩm và truyền thông về doanh nghiệp để thuyết phục họ mua. Vì vậy có thể gọi đây gọi là hoạt động truyền thông marketing. Theo Philip Kotler, truyền thông marketing (marketing communication) là các hoạt động truyền thông tin một cách gián tiếp hay trực tiếp về sản phẩm và bản thân doanh nghiệp tới khách hàng nhằm thuyết phục họ tin tưởng vào doanh nghiệp cũng như sản phẩm, và mua sản phẩm của doanh nghiệp. Quá trình truyền thông là quá trình truyền tải thông tin của doanh nghiệp đến người tiêu dùng để họ biết đến những tính năng sản phẩm, dịch vụ, các chương trình của doanh nghiệp, lợi ích mà doanh nghiệp có thể mang đến cho khách hàng thông qua các sản phẩm hoặc dịch vụ.
Để việc này đạt được hiệu quả doanh nghiệp cần có một hệ thống truyền thông marketing. Luan van 9 Hình 1.1: Hệ thống truyền thông Marketing Hệ thống marketing của một doanh nghiệp được nêu trên là một chuỗi tiến trình mà doanh nghiệp thông tin tới những người trung gian, người tiêu dùng, và các nhóm công chúng khác nhau của mình. Trong quá trình đó những người trung gian lại tiếp tục thông tin đến các khách hàng và các nhóm công chúng khác nhau của họ. Người tiêu dùng tiếp tục thông tin truyền miệng với nhau.
Tuy nhiên, mỗi nhóm lại cung cấp thông tin phản hồi cho các nhóm khác nhau. Hệ thống truyền thông marketing (marketing communication mix) hiện đại, còn được gọi là hệ thống cổ động (promotion mix) bao gồm 5 công cụ chủ yếu sau: Quảng cáo (Advertising) Marketing trực tiếp (direct marketing) Kích thích tiêu thụ (sale promotion) Quan hệ công chúng và tuyên truyền (public relation and publicity) Bán hàng trực tiếp (personal selling) 1. Vai trò của hoạt động truyền thông Truyền thông có ảnh hưởng rất lớn đến mọi vấn đề của xã hội. Truyền thông tác động đến nhận thức của công chúng, từ nhận thức sẽ tác động đến hành động và ứng xử và hành vi của công chúng.
Trong nền kinh tế thị trường, các công ty phải đối đầu với sự cạnh tranh gay gắt và sự đào thải tàn nhẫn nếu họ không xác định cho mình một chiến lược kinh doanh phù hợp. Luan van 10 Sản phẩm, dịch vụ có chất lượng tốt, giá hạ không có nghĩa là người mua sẽ mua ngay.