CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞLÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ ĐẢMBẢO AN NINH TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Đảm bảo an ninh tài chính trong hoạt động của ngân hàng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Bởi lẽ, hoạt động của các NHTMlà “mạch máu” của nền kinh tế quốc dân. Hoạt động của các ngân hàng mà yếu kém, ANTC không đảm bảo làm cho “mạch máu” bị tắc nghẽn, nền kinh tế lâm vào tình trạng khó khăn, khủng hoảng. Ngược lại ANTC luôn luôn được đảm bảo trong mọi điều kiện về kinh tế, chính trị,.
ở trong nước và trên thế giới là nhân tố tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nâng cao uy tín của quốc gia trên trường quốc tế.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước Đảm bảo an ninh tài chính trong hoạt động của các NHTMkhông phải là vấn đề mới, song vai trò của nó chưa được quan tâm một cách toàn diện. Tính từ năm 2001 đến nay chỉ có một số công trình nghiên cứu đề tài này: 1. Đề tài cấp nhà nước: “Thực trạng và giải pháp đảm bảo an ninh tài chính đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng ngân hàng Việt Nam trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế”. Nghiên cứu chuẩn hoá về lý luận ANTCtronghoạt động của các ngân hàng.
Nhóm nghiên cứu đã phân tích đầy đủ thực trạng nội dung về ANTC của hệ thống ngân hàng Việt Nam và kinh nghiệm của ngân hàng các nước trên thế giới.Từ đó đưa ra hệ thống các giải pháp hợp lý nhằm bảo đảm ANTC cho các NHTM Việt Nam trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế. Luận văn: “An ninh tài chính đối với hoạt động của các ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn hội nhập”. Trịnh Hồng Liên, 2008. 5 z Thông qua những chỉ tiêu đánh giá mức độ ANTC trong hoạt động của các NHTM Nhà nước theo chuẩn mực quốc tế, nghiên cứu phân tích đánh giá thực trạng của các NHTM Việt Nam với những khó khăn hạn chế còn tồn tại trong việc đảm bảo an toàn, ổn định cho hệ thống ngân hàng Việt Nam và hoạt động đảm bảo ANTC trong các NHTM cụ thể: Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long.
Từ đó dự đoán những yếu tố tác động và đề xuất giải pháp đảm bảo ANTC cho các NHTM Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010. Đề tài cấp nhà nước: "Nghiên cứu cơ sở lý luận thực tiễn của hệ thống giải pháp đảm bảo an ninh tài chính của Việt Nam trong phát triển và hội nhập quốc tế". Tào Hữu Phùng, Hà nội, Tháng 3/2003. Đây là một báo cáo tổng hợp cấp Nhà nước trên cơ sở chín đề tài nhánh, được nhóm tác giả nghiên cứutrong phạm vi hai năm.
Nghiên cứu đãlàm rõ các vấn đề lý luận, nội dung cơ bản về ANTC trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế của Việt Nam, làm cơ sở khoa học cho các cấp quản lý đề ra chính sách và hoạch định chiến lược ANTCtrên những mặt, những lĩnh vực chủ yếu của đất nước, trong đó có hoạt động tín dụng - ngân hàng. Trên cơ sở đó hình thành các phương án phòng ngừa, ứng phó nguy cơ mất ANTC và đề xuất các định hướng, giải pháp củng cố, tăng cường khả năng đảm bảo ANTC quốc gia trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế của Việt Nam.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 1. “Restructuring and Sustainability-Corporate Strategy of Commercial Bank in Thailand: A Siam Commercial Bank” written by Chinese Business Review, August 2012, Vol. 8, 719-729 Bài viết nghiên cứu tình hình hoạt động của NHTM Nhà nước Thái Lan trong giai đoạn 1997 - 2010 thông qua việc tập trung phân tích chính sách tái cơ cấu tổ chức, kiểm soát và đánh giá hệ thống đo lường, công tác thanh tra, giám sát ngân hàng Thái Lan trong ngắn hạn và dài hạn để đạt được mục tiêu hoạt động của họ, 6 z qua đó xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tài chính của ngân hàng và hệ thống các biện pháp đảm bảo ANTC trong hoạt động ngân hàng.
“Anti-money launderingregulation and implementation in Chinesefinancial sectors:money-laundering vulnerabilities and the 'rulebasedbut risk-oriented' AML approach”, written by Lishan Ai, University of Wollongong, 2012. Trên cơ sở nghiên cứu các nguyên tắc và phương pháp tiếp cận dựa trên rủi ro về nạn rửa tiền trong bối cảnh thực tế của Trung Quốc,Lishan Aiphân tích những thuận lợi và bất cập trong các quy định hiện hành trong hệ thống pháp luật Trung Quốcvề hoạt động chống rửa tiền,liên kết các vấn đề gây tranh cãi nhất và các mối quan tâm hiện nay ở Trung Quốc và tình hìnhthực hiệntại các TCTD Trung Quốc. Nghiên cứu đã chỉ ra các nguy cơ, các mối đe dọa đến ANTC,tình trạng tham nhũng và lỗ hổng trong các chính sách thực thi củacác TCTD Trung Quốc liên quan đến các hoạt động phòng chống rửa tiền. Nghiên cứu cũng phân tích vai trò, trách nhiệm củacấp quản lý trong các TCTD,các cơ quan thực thi pháp luật và đề xuất các kiến nghị có khả năng lấp đầy những khoảng trống trong các quy định chính sách pháp luật và thực tế lỗ hổng trong chương trình phòng chống rửa tiền đối với các TCTD Trung Quốc.
Thesis master: “Effect of financial risk on the earnings response of bank in Indonesia, the Philippines, South Korea and Thailand” written by SohWeiNi, University of Putra Malaysia. Soh We Inđã dựa trên cơ sở của một bài nghiên cứu trước đó có tiêu đề“Abnormal Returns of Bank stocks and their Factor - Analyzed Determinants” được viết bởi hai tác giả Malaysia là Cheng và Ariff năm 2007, phân tích hệ số phản ứng thu nhập (ERC) tạicác NHTM của bốn quốc gia Đông Ácụ thể làThái Lan, Hàn Quốc, Indonesia và Philippines, và tác động của rủi ro tài chính ảnh hưởng đến lợi nhuận của họ sau khi cuộc khủng hoảng tài chính và tái cấu trúc ngân hàngdiễn ra. Trên cơ sở đó Soh We Inphân tích kết quả và đánh giá tình hình đảm bảo ANTC trong các NHTM tại các quốc gia này.Kết quả cho thấy rằng tại các NHTM ở Hàn Quốc và Indonesia yếu tố RRTD đang ảnh hưởng đáng kể đến nguồn 7 z tài chính của họ.Trong khi yếu tố rủi ro lãi suất bổ sung và yếu tố khả năng thanh toán cũng ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động tài chính tại các NHTM của Thái Lan, đáng ngạc nhiên là các NHTM Philippines lại không bị ảnh hưởng nhiều bởi các nguy cơ trên vì họ được liên kết chặt chẽ với Mỹ mặc dù họ bị ảnh hưởng nhất bởi cuộc khủng hoảng tài chính. Những phát hiện này cho thấyảnh hưởng củacác yếu tố rủi ro tài chính tại các NHTM của các nước Đông Á có lịch sử phát triển không tương đồng nhưng cơ cấu được hệ thống ngân hàng và các chính sách cần thiết để đảm bảo cho ngân hàng phát triển bền vững sẽ có những tác động khác nhau đến hoạt động đảm bảo ANTC của các NHTM tại mỗi nước.
Tóm lại,Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nêu trên hầu hết đã nghiên cứu một cách khái quát cả về mặt lý luận và thực tiễn tình hình ANTC trong hệ thống các TCTD -ngân hàng. Đồng thời đưa ra các giải pháp tổng thể giúp ngăn chặn các nguy cơ đe dọa đến an ninh quốc gia. Các nghiên cứu tập trung vào những vấn đề lớn, cơ bản mang tính tổng hợp, trên cơ sở hình thành hệ thống chuẩn mực và đánh giá mức độ, khả năng đảm bảo ANTC của nhà nước trên những lĩnh vực trọng yếu của đất nước, trong đó bao gồm tín dụng - ngân hàng. Tuy nhiên, hầu hết công trình nghiên cứu trên đều thực hiện trong giai đoạn Việt Nam chưa gia nhập WTO.
Môi trường hoạt động kinh doanh tổng thể, cơ chế pháp luật cũng như trình độ quản lý đều khác biệt nhiều so với giai đoạn hiện nay. Nhiều công trình còn mang tính chất định tính, chưa phản ánh được mức độ chấp nhận rủi ro của các NHTM, chưa chỉ ra được mục tiêu của đảm bảo an toàn trong hoạt động và cách thức xây dựng hệ thống theo dõi cơ cấu danh mục rủi ro trong ngân hàng. Những khoảng trống trên đây đã gợi mở những hướng nghiên cứu mới cho tác giả để tác giả thực hiện tốt nghiên cứu của mình. Trên cơ sở các quy định, chính sách, các thông tư của pháp luật Việt Nam hiện hành về thực hiện đảm bảo ANTC trong hoạt động của các NHTM Việt Nam, tác giả tiếp tục khai thác các mảng tối trong guồng vận động của các NHTM, tìm hiểu những bất cập còn tồn tại trong hoạt động của một ngân hàng cụ thể là BIDV, ảnh hưởng đến ANTC của ngân hàng đó cũng như ảnh hưởng đến cả hệ thống ngân hàng Việt Nam; Phân tích 8 z những rủi ro tiềm ẩn bên trong và những tác động bên ngoài BIDV mà nếu không kịp thời phát hiện và ngăn chặn sẽ trở thành nguy cơ đe dọa ANTC của BIDV nói riêng cũng như toàn hệ thống NHTM Việt Nam.2 Cơ sở lý luận về đảm bảo an ninh tài chính trong hoạt động của các Ngân hàng thương mại Việt Nam 1.1 An ninh tài chính “An ninh tài chính là một khái niệm cơ bản để chỉ một tình trạng tài chínhổn định, an toàn, vững mạnh và không bị khủng hoảng”.
(Tào Hữu Phùng, 2004) Ổn định là duy trì được hoạt động bình thường, không có những biến động đột ngột, thất thường. Tuy nhiên, ổn định không có nghĩa là cố gắng giữ nguyên mọi thứ như cũ mà là giữ được ổn định trong tiến trình phát triển đi lên, không ngừng cải tiến và hoàn thiện. An toàn là trạng thái không bị nguy hiểm từ phía các tác động bên trong và bên ngoài. Giữ an toàn đồng nghĩa với không tự mình gây hại cho mình đồng thời ngăn chặn và chống lại được sự tấn công phá hoại từ bên ngoài.
Nếu ổn định là tiền đề có tính chất nền tảng thì an toàn là cốt lõi chi phối toàn bộ quá trình vận động của tình trạng tài chính. Vững mạnh là cơ sở cho sự ổn định và an toàn, một trạng thái tài chính yếu không thể giữ được ổn định và đảm bảo an toàn. Không bị khủng hoảng là trạng thái không rơi vào tình trạng cực kì khó khăn không xoay sở được, là trạng thái bế tắc của một vấn đề.