Chương 1: Phân tích các cơ sở lý luận của hoạt động chuyển giao công nghệ BM&ATTT, bao gồm các khái niệm cơ bản trong lĩnh vực công nghệ và chuyển giao công nghệ BM &ATTT. Khái quát về lý thuyết hệ thố ng đươ ̣c vâ ̣n du ̣ng để nghiên cứu về hoa ̣t đô ̣ng chuyể n giao công nghê ̣ BM &ATTT - Chương 2: Phân tić h, đánh giá hoa ̣t động chuyển giao công nghệ BM &ATTT của một số nước trên thế giới và thực tra ̣ng hoa ̣t đô ̣ng chuyển giao công nghệ BM &ATTT tại Viê ̣t Nam. Nhận dạng đă ̣c điể m , ưu điể m và ha ̣ n chế của hoa ̣t đô ̣ng này. Phân tích các yếu tố làm cản trở hoạt động chuyển giao công nghệ BM&ATTTở Việt nam hiện nay.
- Chương 3: Đưa ra các dự báo về xu hướng phát triển của thị trường công nghệ BM&ATTT Việt nam và đề xuất các nhóm giải pháp chính, bao gồm: Tạo các thiết chế để thúc đẩy sự phát triển của hoạt động chuyển giao công nghệ BM &ATTT; Nâng cao năng lực nhân lực an toàn thông tin của các tổ chức tiế p nhâ ̣n công nghê ̣ ; Xây dựng cơ chế chuyển giao công nghệ lưỡng dụng nhằm tăng hiệu quả và thúc đẩy phát triển công nghệ nội sinh. Phần Kết luận đánh giá khái quát về nội dung và kết quả thực hiện của đề tài đồng thời cũng chỉ ra một số hướng nghiên cứu có thể tiếp tục triển khai từ đề tài này. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ BM&ATTT Để xây dựng luận cứ lý thuyết làm cơ sở giải quyết vấn đề nghiên cứu của Đề tài, trong chương này chú ng ta sẽ phân tích 03 nội dung chính: Khái niệm cơ bản trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ BM&ATTT; Sử du ̣ng lý thuyế t hê ̣ thố ng để nghiên cứu về hoa ̣t đô ̣ng chuyể n giao công nghê ̣ BM &ATTT và Mô ̣t số đă ̣c điể m cơ bản của hoạt động chuyển giao công nghệ BM&ATTT.1 Các khái niệm cơ bản trong lĩnh vực chuyể n giao công nghê ̣ BM&ATTT 1.
Công nghê ̣ và chuyển giao công nghê ̣ Thuật ngữ "công nghệ" xuất phát từ tiế ng Hy Lạp "Techne" có nghĩa là một nghệ thuật hay kỹ năng, và "logia" có nghĩa là một khoa học, hay sự nghiên cứu. Bản thân “công nghệ” là một khái niệm phức tạp với nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau. Do vậy, người ta có thể đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau cho khái niệm này tùy thuộc vào lĩnh vực, bối cảnh mà nó được sử dụng, nhắc đến. Theo tổ chức ESCAP (Ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Á - Thái Bình Dương) thì công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu thông tin.
Tuy nhiên, khái niệm này chưa đầy đủ và chưa phản ánh hết các thuộc tính của công nghệ nên sau đó ESCAP mở rộng thêm "Công nghệ bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất, chế tạo, dịch vụ, quản lý, thông tin…". Theo định nghĩa này, công nghệ không chỉ gắn chặt với quá trình sản xuất chế tạo ra các sản phẩm cụ thể, mà mở rộng khái niệm công nghệ ra các lĩnh vực dịch vụ và quản lý. Theo định nghĩa của Tổ chức PRODEC (1982), “công nghệ là mọi loại kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp được sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến và dịch vụ”. Như vậy, bản chất công nghệ là kỹ năng, kiến thức, thiết bị, phương pháp với mục tiêu để sử dụng trong sản xuất, chế biến và dịch vụ.
Ở Việt Nam, gần đây nhất công nghệ đã được Luật Chuyển giao Công nghệ định nghĩa một cách cô đọng như sau: "Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm"[16]. Định nghĩa này thích hợp trong quan hệ chuyển giao công nghệ hiện nay tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Về nội dung công nghệ, theo quan điểm của Trung tâm Chuyển giao công nghệ châu Á - Thái Bình Dương (APCTT) thì bất cứ một công nghệ nào, dù đơn giản đến đâu cũng bao gồm 4 thành tố có tác động qua lại lẫn nhau để tạo ra biến đổi mong muốn: - Công nghệ hàm chứa trong các vật thể (Technoware-T) bao gồm mọi phương tiện vật chất như công cụ, trang bị, máy móc, vật liệu, phương tiện vận chuyển, nhà xưởng. Có thể gọi dạng hàm chứa này là phương tiện kỹ thuật. - Công nghệ hàm chứa trong con người (Humanware - H) bao gồm mọi năng lực của con người về công nghệ như kỹ năng, kinh nghiệm, kiến thức, tính sáng tạo, sự khôn ngoan, khả năng lãnh đạo, đạo đức lao động… Dạng hàm chứa này gọi là phần con người của công nghệ.
- Công nghệ hàm chứa trong các kiến thức (Inforware - I) có tổ chức đã được tư liệu hóa như lý thuyết, các khái niệm, các phương pháp, thông số, công thức bí quyết. Dạng hàm chứa này gọi là phần thông tin của công nghệ. - Công nghệ hàm chứa trong các khung thể chế (Orgaware - H) tạo nên khung tổ chức của công nghệ, như phần thẩm quyền, trách nhiệm, mối quan hệ, sự phối hợp, mối liên kết. Dạng hàm chứa này gọi là phần tổ chức của công nghệ [13].
Tóm lại, công nghệ có thể hiểu như mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phương pháp (gọi là phần mềm) được lưu giữ dưới các dạng khác nhau (con người, ghi chép) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất (gọi là phần cứng) và một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ…) được áp dụng vào môi trường thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ [4]. Mô ̣t số khái niê ̣m liên quan tớ i khái niê ̣m “công nghê ̣” cũng đươ ̣c đinh ̣ nghiã theo Luâ ̣t chuyể n giao công nghê ̣ , bao gồ m : Bí quyết kỹ thuật là thông tin được tích luỹ, khám phá trong quá trình nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh của chủ sở hữu công nghệ có ý nghĩa quyết định chất lượng, khả năng cạnh tranh của công nghệ, sản phẩm 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com công nghệ; Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có chất lượng và giá trị gia tăng cao; có khả năng hình thành các ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hoá ngành sản xuất, dịch vụ hiện có; Công nghệ mới là công nghệ lần đầu tiên được tạo ra tại Việt Nam; Công nghệ tiên tiến là công nghệ hàng đầu, có trình độ công nghệ cao hơn trình độ công nghệ cùng loại hiện có [4]. Trước khi nói đến khái niệm tiếp theo là “chuyển giao công nghệ” cần phải phân tích thêm về thuật ngữ “chuyển giao”. Cùng với thuật ngữ này, hiện nay tồn tại hai cách hiểu chính.
Cách thứ nhất, có thể hiểu rằng chuyển giao là một phương thức mà cá nhân/ tổ chức có được công nghệ hoặc khả năng công nghệ từ một cá nhân/tổ chức khác [4]. Và như vậy, nó bao gồm bất kỳ hình thái, dạng thức nào truyền công nghệ từ nơi này sang nơi khác. Cách hiểu thứ hai cho rằng mọi hình thức truyền công nghệ như vậy không thể coi là “chuyển giao” và chỉ có thể coi là chuyển giao những gì mất tiền. Trong trường hợp này, “ chuyển giao” phải xảy ra trong khung cảnh tồn tại người mua và người bán công nghệ.
Vì thế, khi xảy ra cả hai trường hợp mất tiền và không mất tiền để có được công nghệ, có thể được gọi là “truyền bá” hoặc “phổ biến” thay vì gọi là “chuyển giao”. Xuất phát từ những cách hiểu này, có thể thấy tồn tại những định nghĩa về “chuyển giao công nghệ” khác nhau. Chúng ta xem xét một số định nghĩa đặc trưng nhất. Theo UNCTAD (1982) “Chuyển giao công nghệ là việc chuyển giao kiến thức có hệ thống để sản xuất ra sản phẩm, áp dụng một quy trình hoặc thực hiện một dịch vụ”.
Bản chất là quá trình chuyển giao kiến thức để sản xuất, áp dụng và thực hiện dịch vụ… Theo tác giả Nawaz Sharif (1983), “chuyển giao công nghệ thường là cách gọi việc mua công nghệ mới. Nó thường xảy ra do có sự tồn tại của “người mua” và “người bán”. Người bán thường được gọi là “người giao” và người mua thường đươ ̣ c gọi là “người nhận” của quá trình chuyể n giao công nghệ. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Luật Chuyển giao Công nghệ , “Chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ”.
Như vâ ̣y khái niệm về chuyển giao công nghệ được hiể u là quá trình đưa công nghệ từ môi trường này sang một môi trường khác bằng mọi hình thức khác nhau để sản xuất ra sản phẩm, thực hiện dịch vụ và cho các mục đích khác. Cách hiểu này sẽ rộng hơn cách hiểu cho rằng chuyển giao công nghệ thực chất chỉ là việc mua bán công nghệ (Trần Ngọc Ca. Có thể thấy, tùy thuộc vào khái niệm “chuyển giao” mà thuật ngữ “chuyển giao công nghệ” cũng sẽ có hai cách hiểu chính về bản chất của chuyển giao: Chỉ là mua bán công nghệ (chuyển giao mất tiền); không chỉ là mua bán công nghệ (bao gồm cả chuyển giao mất tiền và không mất tiền). Tuy nhiên, trong khuôn khổ đề tài này, chúng ta chủ yếu xem xét các hoạt động chuyển giao công nghệ thông qua mua bán công nghệ.
Ngoài ra, khái niệm “chuyển giao công nghệ” sẽ có nội dung tùy thuộc vào cách hiểu thuật ngữ “công nghệ “ đã được quy ước ở trên. Trên thực tế mô ̣t giao dich ̣ mua bán công nghê ̣ có thể gồ m nhiề u đố i tươ ̣ng khác nhau, có loại là công nghệ thuần túy , có loại bản thân không phải là công nghệ nhưng lại hàm chứa công nghệ. Mua bán công nghê ̣ có thể đươ ̣c thương lươ ̣ng trên cơ sở tro ̣n gói, hoă ̣c riêng cho từng đố i tươ ̣ng.