chương 1 luật doanh nghiệp 2014) Quá trình kinh doanh thực hiện một cách liên tục, một số hoặc tất cả các 8 công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích để sinh lợi. Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận.1 Phân loại các loại hình Doanh nghiệp Theo Luật Doanh nghiệp 2014. Doanh nghiệp được phân chia thành các loại hình pháp lý như sau: Công ty trách nhiệm hữu hạn Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) là doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Chủ sở hữu công ty do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu.
Không được phát hành cổ phần để huy động vốn trong kinh doanh. Chuyển nhượng vốn góp được thực hiện theo quy định của pháp luật. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phần. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó: a) Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá 50; b) Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, trừ trường hợp quy 9 định tại khoản 4 Điều 48 của Luật doanh nghiệp 2014; c) Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các Điều 52, 53 và 54 của Luật doanh nghiệp 2014. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên không được quyền phát hành cổ phần Công ty cổ phần Công ty cổ phần là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó.
Vốn của công ty được chia nhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và được phát hành huy động vốn tham gia của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế. Các đặc điểm cơ bản của Công ty cô phần như sau: - Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; - Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; - Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; - Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn.
Công ty hợp danh Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh). Thành viên hợp doanh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có 10 các thành viên góp vốn. Doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp tư nhân là: doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp tư nhân có chế độ trách nhiệm pháp lý vô hạn.3 Hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp của Ngân hàng Thương mại 1.1 Khái niệm và phân loại hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp của Ngân hàng Thương mại Khái niệm Cho vay đối với Khách hàng doanh nghiệp là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng giao cho doanh nghiệp một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Quan hệ này được thể hiện qua nội dung sau: - Ngân hàng chuyển giao cho doanh nghiệp một lượng giá trị tiền tệ nhất định. - Doanh nghiệp chỉ được sử dụng tạm thời lượng giá trị chuyển giao trong một thời gian nhất định.
Sau khi hết thời gian sử dụng doanh nghiệp có nghĩa vụ phải hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu, khoản dôi ra gọi là tiền lãi. Thời hạn nhất định ở đây chính là thời hạn cho vay. Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi doanh nghiệp bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và doanh nghiệp. Cho vay là tài sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng của ngân hàng.
Cho vay thường định lượng theo hai chỉ tiêu: Doanh số cho vay trong kỳ và dư nợ cuối kỳ. Doanh số cho vay trong kỳ là số tiền mà ngân hàng đã cho vay ra trong kỳ. Dư nợ cuối kỳ là số tiền mà hiện ngân hàng đang cho vay vào thời điểm cuối kỳ. Phân loại hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp của NHTM Các cách phân loại cho vay chỉ là tương đối song tùy theo yêu cầu của khách 11 hàng và mục tiêu quản lý của ngân hàng, cho vay có thể được phân loại theo các tiêu chí sau: Căn cứ vào thời hạn - Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ một năm trở xuống và được dùng để tài trợ cho vốn lưu động của doanh nghiệp.
- Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ trên một năm (>12 tháng) đến năm năm (60 tháng). Cho vay trung hạn chủ yếu được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, mở rộng sản xuất kinh doanh, hoặc xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ. - Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên năm năm (>60 tháng). Cho vay dài hạn chủ yếu để đáp ứng nhu cầu các dài hạn như: các dự án đầu tư, xây dựng nhà ở, các thiết bị quy mô lớn.
Căn cứ vào mục đích sử dụng - Cho vay sản xuất kinh doanh: là loại cho vay ngắn hạn để tài trợ vốn lưu động cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh. - Cho vay kinh doanh bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản, nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng - Cho vay không có bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người khác, việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay. - Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như ký quỹ, thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của người khác.
Căn cứ vào phương pháp hoàn trả nợ vay - Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn. - Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp. - Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tùy khả năng 12 tài chính của mình mà người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào. Căn cứ vào phương thức cho vay - Cho vay thấu chi: Là việc cho vay mà TCTD thỏa thuận cho doanh nghiệp chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp đến một giới hạn xác định, trong khoảng thời gian xác định và phù hợp với quy định của Chính phủ về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
- Cho vay trực tiếp từng lần: Mỗi lần vay vốn doanh nghiệp và ngân hàng làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. Ngân hàng áp dụng cho vay từng lần đối với những doanh nghiệp không có nhu cầu vay vốn thường xuyên và chưa được ngân hàng tín nhiệm. - Cho vay theo hạn mức tín dụng: Ngân hàng và doanh nghiệp thỏa thuận một hạn mức tín dụng và duy trì trong khoảng thời gian nhất định. Loại cho vay này áp dụng đối với những doanh nghiệp có nhu cầu vay ngân hàng thường xuyên và được ngân hàng tín nhiệm.
- Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên quá trình luân chuyển của hàng hóa, khi doanh nghiệp có nhu cầu mua hàng hóa thì có thể được ngân hàng cho vay vốn và ngân hàng sẽ tiến hành thu nợ khi doanh nghiệp bán được hàng. - Cho vay trả góp: Ngân hàng và khách hàng tiến hành xác định số tiền lãi vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay. - Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay với một dự án hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp việc cho vay. - Cho vay gián tiếp: Là cách thức cho vay mà tiền vay được phát đến một tổ chức trung gian sau đó mới đến tay người vay.
Căn cứ vào đối tượng cho vay - Cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME). - Cho vay đối với doanh nghiệp lớn (CIB).