CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.1 - Cơ sở lý thuyết của hoạt động thương mại quốc tế.1 - Khái niệm thương mại quốc tế. Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hóa dịch vụ qua biên giới quốc gia hoặc lãnh thổ, đó là một hoạt động nằm trong khâu lưu thông hàng hóa. Khái niệm thương mại quốc tế có nội dung lớn hơn khái niệm ngoại thương. Đối tượng của thương mại quốc tế không chỉ gồm các hàng hóa vật chất mà còn bao gồm cả các dịch vụ liên quan chặt chẽ đến hàng hóa thông thường như dịch vụ kĩ thuật, mua bán phát minh sáng chế, dịch vụ vận tải, thương mại điện tử và các dịch vụ thương mại quốc tế khác.
Khái niệm thương mại quốc tế thực sự được dùng nhiều nhất cùng với sự hình thành của GATT, ngày nay là WTO. Khái niệm này gắn với nội dung điều chỉnh của GATT đó là thương mại quốc tế. Năm 1948, GATT được thành lập, Hiệp định này chủ yếu điều tiết thương mại hàng hóa hữu hình. Từ đó đến nay, thương mại quốc tế đã phát triển nhanh chóng và mở rộng sang cả lĩnh vực dịch vụ trong đó bao gồm cả các hàng hóa vô hình như: ngân hàng, bảo hiểm, du lịch, tư vấn… Các loại hình dịch vụ này cùng với các vấn đề thương mại trong đầu tư và bảo hộ quyến sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại đã phát triển nhanh chóng và trở thành một bộ phận quan trọng của thương mại quốc tế.
Trên cơ sở GATT, năm 1995, WTO ra đời theo hiệp định Marrakesh. WTO hoạt động dựa trên một bộ các luật lệ và quy tắc điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực thương mại quốc tế, được xây dựng dựa trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản như: thương mại không có sự phân biệt đối xử, chỉ bảo hộ bằng thuế quan, tạo dựng một nền tảng ổn định Nguyễn Trọng Phát Kinh tế phát triển – K46 Báo cáo thực tập chuyên ngành 9 cho thương mại, thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán… nhằm phát triển hơn nữa các quan hệ thương mại quốc tế, đẩy mạnh tự do hóa thương mại toàn cầu. Với sự ra đời của tổ chức WTO, từ ngày 1/1/1995, khái niệm thương mại quốc tế đã được chuẩn mực hóa và sử dụng rộng rãi. Xét về đặc trưng thì thương mại quốc tế được định nghĩa là việc mua bán hàng hóa và dịch vụ qua biên giới quốc gia.
Các định nghĩa này được dùng nhiều nhất khi nhìn vào chức năng của thương mại, vai trò của thương mại như một chiếc cầu nối cung và cầu hàng hóa, dịch vụ về cả số lượng, chất lượng và thời gian sản xuất. Trong nhiều trường hợp, trao đổi hàng hóa và dịch vụ còn đi kèm với việc trao đổi các yếu tố sản xuất như lao động, vốn, đặc biệt là khi đề cập đến thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Trong bối cảnh kinh doanh quốc tế hiện đại, một cách chính xác thương mại quốc tế được hiểu là việc mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các đối tác có quốc tịch khác nhau. Cơ sở của thương mại quốc tế là do yêu cầu khách quan của phát triển và xã hội hóa lực lượng sản xuất thế giới mà nền tảng của nó dựa trên cơ sở phân công lao động và sự trao đổi lợi thế so sánh giữa các quốc gia vì mục tiêu phát triển của các quốc gia đó.
Quan hệ thương mại quốc tế là toàn bộ các hoạt động trao đổi, hợp tác giữa các quốc gia, giữa các khối trong lĩnh vực thương mại dựa trên cơ sở các hiệp định thương mại, các cam kết, thỏa thuận song phương và đa phương. Ngày nay, nhiều quốc gia phát triển theo xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập và cùng phát triển, nên việc tăng cường phát triển mối quan hệ thương mại quốc tế là một yêu cầu cấp thiết tất yếu. Phát triển thương mại quốc tế chính là tăng cường các hoạt động trong thương mại quốc tế. Trong khuôn khổ bài viết này em chỉ xin đề cập đến Nguyễn Trọng Phát Kinh tế phát triển – K46 Báo cáo thực tập chuyên ngành 10 việc tăng cường hoạt động trao đổi thương mại các hàng hóa hữu hình của Việt Nam với Trung Quốc.2 - Một số học thuyết về thương mại quốc tế.1 - Học thuyết trọng thương ( Thomas Mun) - cơ sở đầu tiên cho hoạt động thương mại quốc tế.
Chủ nghĩa Trọng thương phát sinh và phát triển mạnh ở Châu Âu, đặc biệt là ở Anh và Pháp từ giữa thế kỷ 15,16,17 và kết thúc thời kì hoàng kim của mình vào giữa thế kỉ 18. Tư tưởng chính của học thuyết: Mỗi quốc gia muốn đạt được sự thịnh vượng trong phát triển kinh tế thì phải gia tăng khối lượng tiền tệ. Muốn gia tăng khối lượng tiền tệ thì con đường chủ yếu là phát triển ngoại thương, tức là phát triển buôn bán với nước ngoài. Học thuyết cũng nhấn mạnh trong hoạt động ngoại thương phải thực hiện chính sách xuất siêu ( tăng cường xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu).
Lợi nhuận buôn bán theo chủ nghĩa Trọng thương là kết quả của sự trao đổi không ngang giá và lường gạt. Trong trao đổi có một bên thua và một bên được, và trong thương mại quốc tế thì “ dân tộc này làm giàu bằng cách hi sinh lợi ích của dân tộc kia ”. Chủ nghĩa Trọng thương đề cao vai trò của nhà nước trong việc điều khiển nền kinh tế thông qua “ bảo hộ ”, “ điều hướng ” và “ gia tăng hiệu năng” của nền kinh tế trong nước. Cụ thể là những người theo học thuyết trọng thương kêu gọi nhà nước can thiệp sâu vào hoạt động kinh tế như lập hàng rào thuế quan để bảo hộ mậu dịch, có các biện pháp miễn thuế nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất, cấm bán ra nước ngoài những sản phẩm thiên nhiên như sắt, thép, sợi, lông cừu.
Học thuyết còn đề xuất chính phủ nâng đỡ hoạt động xuất khẩu như tài trợ xuất khẩu, duy trì quota, và đánh thuế nhập khẩu cao đối với nhập khẩu hàng tiêu dùng để duy trì hiện tương xuất siêu trong hoạt động thương mại quốc tế. Nguyễn Trọng Phát Kinh tế phát triển – K46 Báo cáo thực tập chuyên ngành 11 Các nhà kinh tế theo chủ nghĩa Trọng thương - tiêu biểu là Thomas Mun cho rằng: lao động là yếu tố cơ bản của sản xuất cho nên để tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường cần hạ thấp lương để giảm chi phí sản xuất. Trong khi đó những yếu tố về năng suất lao động và công nghệ lại không được đề cập tới như là các nhân tố để tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế. Ưu điểm: Học thuyết Trọng thương đã sớm đánh giá tầm quan trọng của thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế.
Tư tưởng này đối ngược lại với tư tưởng phong kiến lúc bấy giờ là coi trọng nền kinh tế tự cung tự cấp. Học thuyết đã sớm nhận rõ vai trò quan trọng của nhà nước trong việc trực tiếp tham gia vào điều tiết hoạt động kinh tế xã hội thông qua các công cụ thuế quan, lãi suất đầu tư và các công cụ bảo hộ mậu dịch. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử lí thuyết kinh tế được nâng lên như là lí thuyết khoa học, khác hẳn với các tư tưởng kinh tế thời trung cổ giải thích bằng các quan niệm tôn giáo giáo điều. Nhược điểm: Các lí luận của học thuyết Trọng thương còn đơn giản chưa cho phép giải thích bản chất bên trong của các hiện tượng thương mại quốc tế.2 - Lợi thế tuyệt đối của Adam Smith.
Lí thuyết lợi thế tuyệt đối được Adam Smith trình bày trong tác phẩm “ Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân giàu có của các quốc gia” Tư tưởng của Adam Smith về thương mại quốc tế. Thương mại đặc biệt là ngọai thương có tác dụng thúc đẩy sự phát triển kinh tế nước Anh ghê gớm. Nhưng theo ông nguồn gốc sự giàu có của nước Anh không phải là ngoại thương mà là công nghiệp. Theo Adam Smith thì mỗi quốc gia nên chuyên môn hóa vào những ngành sản xuất mà họ có lợi thế tuyệt đối, có nghĩa là sử dụng những lợi thế tuyệt đối cho phép họ sản xuất ra sản phẩm Nguyễn Trọng Phát Kinh tế phát triển – K46 Báo cáo thực tập chuyên ngành 12 với chi phí thấp hơn các nước khác.
Chẳng hạn như tài nguyên nhiều, dễ khai thác, lao động dồi dào, giá nhân công rẻ, khí hậu ôn hòa, đất đai màu mỡ cho sản lượng cao, chi phí thấp… Quốc gia sẽ chỉ xuất khẩu những hàng hóa mà họ có lợi thế tuyệt đối, nhập khẩu những hàng hóa mà họ không có lợi thế tuyệt đối. Thương mại không là quy luật trò chơi bằng không mà đây là quy luật trò chơi tích cực, theo đó các quốc gia đều có lợi trong thương mại quốc tế. Tuy nhiên, hạn chế của học thuyết Adam Smith ở chỗ học thuyết của ông không cho phép giải thích được hiện tượng: Một nước có mọi lợi thế hơn hẳn nước khác hoặc những nước không có lợi thế tuyệt đối nào cả thỉ chỗ đứng trong phân công lao động quốc tế là ở đâu? Và thương mại quốc tế sẽ diễn ra như thế nào ở các nước này? 1.3 - Lợi thế so sánh ( David Ricardo) - quy luật chi phối hoạt động thương mại quốc tế. David Ricardo ( 1772 - 1823 ) là nhà duy vật, nhà kinh tế học người Anh ( gốc Do Thái ), ông được C.Mác đánh giá là người “ đạt tới đỉnh cao nhất của kinh tế chính trị tư sản cổ điển”.
Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là: “ Những nguyên lí kinh tế chính trị và thuế ” xuất bản năm 1817. Tư tưởng chính của Ricacdo về mậu dịch quốc tế. Mọi nước luôn có thể và rất có lợi khi tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế. Bởi vì phát triển ngoại thương cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước: chỉ chuyên môn hóa vào sản xuất một số sản phẩm nhất định và xuất khẩu hàng hóa của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu của nước khác.
Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so với nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có lợi khi tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế.