phần mở đầu và kết luận, kết cấu của luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thƣc trạng quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Đầu tƣ và phát triển Việt Nam (BIDV) – Chi nhánh Sở giao dịch III. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và phát triển Việt Nam (BIDV) – Chi nhánh Sở giao dịch III 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Tín dụng là hoạt động chính tại các NHTM, các khoản cho vay thƣờng chiếm trên một nửa tổng giá trị tài sản của Ngân hàng và đem lại từ 50 – 70% nguồn thu cho ngân hàng.
Tuy nhiên, đây cũng lại là hoạt động phát sinh rủi ro phổ biến nhất trong hoạt động ngân hàng. Nếu coi tín dụng là việc tin tƣởng đƣa cho khách hàng sử dụng giá trị hiện tại với kỳ vọng nhất định thì rủi ro tín dụng chính là khả năng mà kỳ vọng đó không đƣợc đáp ứng. Nói cách khác, rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra sự khác biệt không mong muốn giữa kết quả thực tế và kết quả kỳ vọng – đúng hạn nhận đƣợc gốc lẫn lãi. Rủi ro tín dụng là rủi ro từ phía bên vay, do đó, rủi ro tín dụng là bạn đƣờng đồng hành trong kinh doanh ngân hàng, có thể đề phòng, hạn chế nhƣng không thể loại trừ.
RRTD là loại rủi ro phức tạp nhất, quản lý, phòng ngừa khó nhất, cũng nhƣ nếu xảy ra thì gây hậu quả nặng nề nhất. Nó đòi hỏi ngân hàng phải có những giải pháp đồng bộ, hữu hiệu mới có thể hạn chế, ngăn ngừa bớt rủi ro, giảm tối thiểu những tổn thất có thể xảy ra. Có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng: Trong tài liệu [1] “Financial Institutions Management – A Modern Perpective”.Lange định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể đƣợc thực hiện đầy đủ về cả số lƣợng và thời hạn”. Theo Văn bản hợp nhất số 22 ngày 04/06/2014 của Ngân hàng nhà nƣớc thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không 7 thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Phân loại rủi ro tín dụng Theo phƣơng thức quản lý RRTD hiện nay, ngƣời ta có thể phân loại RRTD dựa trên các tiêu chí nhƣ nguồn gốc hình thành rủi ro; theo tính chất của rủi ro hay theo mức độ của rủi ro. Căn cứ vào nguồn gốc hình thành rủi ro Căn cứ vào nguồn gốc hình thành rủi ro, RRTD đƣợc phân chia thành rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. Rủi ro giao dịch (Transaction risk) Rủi ro giao dịch là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có 03 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.
+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phƣơng án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. + Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm nhƣ các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. Rủi ro danh mục (Porfolio risk) Rủi ro danh mục là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, đƣợc phân chia thành 02 loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
+ Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. + Rủi ro tập trung: là trƣờng hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều 8 đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Căn cứ theo mức độ rủi ro Theo tiêu chí này, RRTD gồm có 4 cấp độ là: rủi ro không thu đƣợc lãi đúng hạn, rủi ro không thu đƣợc vốn đúng hạn, rủi ro không thu đƣợc lãi và rủi ro không thu đủ vốn vay.
Rủi ro không thu được lãi đúng hạn Cấp độ thứ nhất là ngƣời vay không trả đƣợc lãi đúng hạn, khi đó ngân hàng sẽ chuyển số lãi đó vào khoản mục lãi treo phát sinh. Hình thức rủi ro này đƣợc xếp vào mức rủi ro thấp vì ngoại trừ trƣờng hợp khách hàng muốn quỵt nợ, chiếm dụng vốn thì phần lớn đều xuất phát từ sự thiếu cân đối trong kỳ hạn thu nợ và trả nợ của khách hàng. Rủi ro không thu được vốn đúng hạn Khi không thu đƣợc vốn đúng hạn thì tình hình trở nên nghiêm trọng hơn do một lƣợng vốn cho vay lớn tạm thời chƣa thể thu hồi. Khi đó ngân hàng sẽ chuyển số nợ vốn đó sang mục nợ quá hạn phát sinh.
khoản mục này phát sinh vào thời gian đáo hạn của hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên đó chƣa phải là khoản mất mát hiện thực của Ngân hàng vì có thể tiến độ hoạt động kinh doanh của khách hàng bị chậm so với kế hoạch đã đề ra trình ngân hàng. Rủi ro không thu được lãi Tình hình kinh doanh của khách hàng có thể đã kém hiệu quả đến mức không thể trả đủ lãi cho ngân hàng. Khi đó, ngân hàng phải chuyển khoản lãi này vào khoản mục lãi treo đóng băng và thậm chí có thể phải thực hiện miễn giảm lãi cho khách hàng.
Rủi ro không thu đủ vốn cho vay Tình huống xấu nhất xảy ra khi ngân hàng không thu đủ vốn cho vay và lúc này ngân hàng đã bị mất vốn. Tại thời điểm này, ngân hàng sẽ chuyển khoản nợ vào mục nợ không có khả năng thu hồi hoặc phải xóa nợ, coi nhƣ khép lại một hợp 9 đồng tín dụng không có hiệu quả. Trong thực tế, không phải lúc nào gặp rủi ro tín dụng thì ngân hàng cũng phải trải qua cả 4 trƣờng hợp trên. Có trƣờng hợp khách hàng trả lãi rất đầy đủ và đúng hạn nhƣng cuối cùng lại không thể trả gốc cho ngân hàng; vì vậy, khi nghiên cứu về rủi ro tín dụng, ngƣời ta thƣờng chú trọng đến các trƣờng hợp có nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng nhƣ là lãi treo phát sinh hay nợ quá hạn phát sinh, còn các trƣờng hợp khác có lãi treo đóng băng hay nợ không có khả năng thu hồi đƣợc coi là rủi ro thực sự nên thƣờng đƣợc xem xét để giải quyết hậu quả và rút ra các bài học kinh nghiệm.
Căn cứ theo tính chất của RRTD Theo tiêu chí này rủi ro tín dụng đƣợc chia làm 2 loại là rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan. Rủi ro khách quan Đây là loại rủi ro do các nguyên nhân khách quan gây ra nhƣ thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, ngƣời vay bị chết, mất tích… dẫn đến thất thoát vốn vay dù ngân hàng cho vay và ngƣời đi vay đã thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý và sử dụng khoản vay. Rủi ro chủ quan Đây là loại rủi ro thuộc về lỗi của ngân hàng hoặc bên đi vay vì vô tình hoặc cố ý gây ra dẫn đến thất thoát vốn vay. Đối với rủi ro chủ quan nếu có những biện pháp hợp lý có thể khắc phục hoặc hạn chế đƣợc loại rủi ro này.
TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động chính của NHTM. Phần lớn lợi nhuận của ngân hàng cũng đƣợc tạo ra từ chính nghiệp vụ này. Tuy nhiên, trong hoạt động tín dụng yếu tố rủi ro luôn thƣờng trực, do đó việc kiểm soát cũng nhƣ các biện pháp phát hiện, phòng ngừa, hạn chế RRTD đƣợc đặc biệt chú ý.
Mặt khác, trong nền kinh tế thị trƣờng, ngân hàng luôn là một tổ chức kinh tế hạch toán độc lập và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình. Vì vậy, để đảm bảo sự tồn tại và phát 10 triển của mình quản trị rủi ro tín dụng là một đòi hỏi cấp thiết đối với các ngân hàng thƣơng mại. Khi bắt đầu xem xét một khoản tín dụng, ngân hàng cần lƣờng trƣớc những rủi ro có thể xảy ra. Đây cũng chính là xuất phát điểm hình thành nên những ý tƣởng quản trị rủi ro tín dụng của NHTM.
Mặc dù rủi ro tín dụng là một hiện tƣợng tiềm ẩn, nhƣng do tính lặp lại của rủi ro nên có thể nhận biết đƣợc quy luật của nó, chính vì điều này mà ngân hàng có thể tìm ra những biện pháp quản lý nhằm hạn chế khả năng xảy ra rủi ro tín dụng và giảm thiểu nó một cách tối đa. Nhƣ vậy có thể hiểu: Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình nhận dạng, phân tích các nhân tố rủi ro, trên cơ sở đó lựa chọn triển khai các biện pháp phòng ngừa và quản lý hoạt động tín dụng nhằm hạn chế và loại trừ rủi ro trong quá trình cấp tín dụng. Quản trị rủi ro tín dụng bao gồm toàn bộ quá trình thẩm định đánh giá trƣớc khi khoản vay đƣợc phê duyệt cùng với toàn bộ quá trình giám sát, báo cáo việc tuân thủ những cam kết tín dụng và kết thúc khi vốn đƣợc thu hồi về.