Chương 1: ý luận chung về thuế giá trị gia tăng và kiểm soát thu thuế giá trị gia tăng tại Cơ quan thuế. Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát thu thuế giá trị gia tăng tại Chi cục Thuế thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Chương 3: Giải pháp tăng cường kiểm soát thu thuế giá trị gia tăng tại Chi cục Thuế thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. e 9 CHƢƠNG 1: Ý UẬN CHUNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ KIỂM SOÁT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI CƠ QUAN THUẾ 1.
ý luận chung về thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm về thuế giá trị gia tăng GTGT là giá trị tăng thêm đối với một sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ do cơ sở sản xuất, chế biến, buôn bán hoặc dịch vụ tác động vào nguyên vật liệu thô hay hàng hóa mua vào, làm cho giá trị của chúng tăng thêm. Nói cách khác, đây là số chênh lệch giữa “giá đầu ra” và “giá đầu vào” do đơn vị kinh tế tạo ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Tại Điều 2, Luật thuế GTGT của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 quy định [1, tr.
98]: “Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”. Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế Doanh thu, quốc gia đầu tiên trên thế giới ban hành luật thuế GTGT là Cộng hòa Pháp vào năm 1954. Thuế GTGT theo tiếng Pháp gọi là Taxe Sur La Valeur Ajoutée (viết tắt là TVA), tiếng anh gọi là Vale Added Tax (viết tắt là VAT) dịch ra tiếng Việt là thuế GTGT. Ở nước ta, Luật thuế GTGT được ban hành ngày 10/5/1997 tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa IX và chính thức áp dụng từ ngày 01/01/1999, nhằm khắc phục nhược điểm của thuế Doanh thu là thu thuế trùng lắp, nhiều mức thuế suất, hạn chế xuất khẩu để phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và công tác quản lý thuế.
Kể từ khi ban hành đến nay, luật thuế GTGT đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2003, 2005, 2008 và 2013, 2014, 2016 để kịp thời tháo gỡ các vướng mắc phát sinh, phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế. e 10 Như vậy, xét về bản chất thuế GTGT là loại thuế gián thu. Các nhà sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ là NNT nhưng người tiêu dùng lại thực chất là người chịu thuế thông qua giá cả hàng hóa, dịch vụ. Được gọi là thuế GTGT vì thực chất thuế chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ ở tất cả các khâu từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng chứ không tính trên toàn bộ giá trị của hàng hóa, dịch vụ đó.
Tổng số thuế thu được ở mỗi khâu chính bằng với số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT theo như quy định tại Điều 2 Luật thuế GTGT đã trình bày, với bản chất là một loại thuế gián thu. Các nhà sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ là NNT nhưng người tiêu dùng mới là người chịu thuế thông qua giá cả hàng hóa dịch vụ. Là một loại thuế độc lập nên thuế GTGT cũng có một số đặc điểm cụ thể như sau: Thứ nhất, Thuế GTGT là một loại thuế gián thu, tính gián thu của thuế GTGT được biểu hiện ở việc NNT và người chịu thuế không đồng nhất với nhau.
Người mua hàng hóa, dịch vụ là người phải trả thuế GTGT thông qua giá mua của hàng hóa, dịch vụ. Người bán hàng hóa, dịch vụ thực hiện nộp khoản thuế GTGT “đã được người mua trả” vào NSNN. Thứ hai, Thuế GTGT đánh vào GTGT của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó. Tổng số thuế GTGT thu được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng.
Thứ ba, Là một loại thuế có tính trung lập cao. Thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của NNT và không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức, phân chia quá trình SXKD, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít. e 11 Thứ tư, Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vị lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ. Như vậy, xét về phạm vi đánh thuế, thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, người tiêu dùng cuối cùng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia là người chịu thuế.
Đặc điểm này tạo ra sự công bằng trong những giao dịch quốc tế thông qua việc không thu thuế đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu và đánh thuế đối với hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu. Vai trò của thuế giá trị gia tăng Trong nền kinh tế, thuế không chỉ là công cụ thu ngân sách mà còn là công cụ quan trọng của Nhà nước để quản lý, kiểm soát, điều tiết vĩ mô nền kinh tế, nó ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động của hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước. Nhà nước sử dụng thuế nhằm hướng dẫn, điều tiết các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, thực hiện chính sách phân phối và phân phối lại, điều tiết thu nhập, giải quyết công bằng xã hội. Trong đó, thuế GTGT là một khoản thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu ngân sách của Nhà Nước hàng năm (trừ dầu thô) chiếm khoảng 27% đến 29%, do đó thuế GTGT có vai trò rất to lớn, tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, cụ thể: Thứ nhất, Thuế GTGT là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với nền kính tế, có tác dụng điều tiết thu nhập của tổ chức, cá nhân tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT.
Thứ hai, Thuế GTGT khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, chuyên môn hóa, hợp tác hóa sản xuất nâng cao hiệu quả kinh tế, phù hợp với phát triển kinh tế thị trường. Thứ ba, Thuế GTGT khuyến khích xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ thông qua áp dụng thuế suất 0%. DN xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ không phải chịu thuế GTGT ở khâu xuất khẩu và còn được hoàn số thuế GTGT đầu vào đã thu ở khâu trước nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả e 12 năng cạnh tranh về giá hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu trên thị trường quốc tế. Từ đó cho thấy, Thuế GTGT là loại thuế có vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật thuế của Việt Nam, song để phát huy một cách có hiệu quả vai trò của thuế GTGT, chúng ta cần phải xem xét nó dưới nhiều khía cạnh, kể cả những kinh nghiệm xử lý của nước ngoài.
Nội dung cơ bản của Luật thuế giá trị gia tăng Thứ nhất, về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT: Quá trình cải cách và hoàn thiện Luật thuế GTGT và các văn bản hướng dẫn thi hành, Quốc hội, Chính phủ và Bộ Tài chính đã ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT như sau: - Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008; - Luật số 31/2013/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT; - Luật số 71/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế; - Luật số 106/2016/QH13 ngày 06 tháng 4 năm 2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT, Luật thuế Tiêu thụ Đặc biệt và Luật Quản lý thuế. Về một số văn bản hướng dẫn thi hành: - Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế GTGT, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014, được sửa đổi, bổ sung bởi: - Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế GTGT và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế GTGT, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014, được sửa đổi, bổ sung bởi: e 13 Thứ hai, về nội dung cơ bản của Luật thuế GTGT: a) Đối tượng chịu thuế GTGT: Là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT theo quy định hiện hành. Việc xác định hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT được căn cứ vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, theo đó hàng hóa, dịch vụ được tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT. Như vậy, phạm vi đối tượng chịu thuế GTGT ở Việt Nam rất rộng, bao gồm tất cả các hàng hóa, dịch vụ được sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu phục vụ cho tiêu dùng trong nước.
Hoạt động tiêu dùng trong nước có thể là tiêu dùng cho hoạt động SXKD, tiêu dùng cho các hoạt động không SXKD hoặc tiêu dùng cá nhân. b) Người nộp thuế GTGT: Người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh và tổ chức, cá nhân có nhập khẩu hàng hóa, mua dịch vụ từ nước ngoài thuộc diện chịu thuế GTGT. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT bao gồm: 1. Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo uật DN, uật DN Nhà nước, uật Hợp tác xã và pháp luật kinh doanh chuyên ngành khác; 2.
Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác; 3. Các DN có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp e 14 tác kinh doanh theo uật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (nay là uật đầu tư); các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam nhưng không thành lập pháp nhân tại Việt Nam; 4.