Đặt vấn đề Phần II: Cơ sở lý luận và thực tiễn về giải pháp thúc đẩy huy động vốn của ngân hàng thương mại. Phần III: Giới thiệu về Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Kinh Bắc và Phương pháp nghiên cứu. Phần IV: Kết quả nghiên cứu Phần V: Kết luận và kiến nghị 3 c PHẦN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2.
Khái niệm ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng ngân hàng - một trung gian tài chính cung ứng vốn chủ yếu, hữu hiệu cho nền kinh tế. Việc tạo lập, tổ chức quản lý vốn của Ngân hàng thương mại là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu không chỉ vì lợi ích riêng của bản thân các NHTM mà còn vì sự phát triển chung của nền kinh tế: (Nguyễn Thị Mùi, 2008). Theo pháp lệnh ngân hàng năm 1990 của Việt Nam: “NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Theo Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: "NHTM là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng".
Trong đó, hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh cung cấp thường xuyên hoặc một số nghiệp vụ sau đây: (i) Nhận tiền gửi; (ii) Cấp tín dụng; (iii) Cung cấp dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thƣơng mại Trải qua hàng trăm năm, đến nay hoạt động của các Ngân hàng thương mại đã trở thành một yếu tố không thể thiếu gắn liền với nền kinh tế của mọi quốc gia trên thế giới. Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa, cung cấp vốn cho nền kinh tế. Với sự phát triển kinh tế và công nghệ hiện nay, hoạt động Ngân hàng đã có những bước tiến rất nhanh, đa dạng và phong phú hơn song Ngân hàng vẫn duy trì các nghiệp vụ cơ bản sau: 2.
Huy động vốn Huy động vốn là một hoạt động quyết định sự tồn tại của một ngân hàng, là đặc điểm riêng có của ngành kinh doanh, là tiêu chí quan trọng và duy nhất để phân biệt giữa Ngân hàng với doanh nghiệp khác. Chính chức năng huy động 4 c vốn mà các Ngân hàng thương mại có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế. Đồng thời, huy động vốn cũng là hoạt động hết sức quan trọng quyết định sự thành bại và phát triển của ngân hàng trong quá trình cạnh tranh. Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu chiếm tỷ trọng lớn (trên 80%) trong toàn bộ vốn kinh doanh của NHTM.
Đây là nguồn vốn có ảnh hưởng rất lớn đến chi phí và khả năng mở rộng kinh doanh của Ngân hàng. Nguồn vốn này có xu hướng ngày càng gia tăng, phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế, trong điều kiện tái cơ cấu và nâng cao chất lượng dịch vụ của ngân hàng: (Nguyễn Thị Mùi, 2008) Đây là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng nhất, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng. Vốn được ngân hàng huy động dưới nhiều hình thức khác nhau như huy động dưới hình thức tiền gửi, đi vay, phát hành giấy tờ có giá. Mặt khác trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngân hàng tiến hành cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất, cho các mục tiêu phát triển kinh tế của địa phương và cả nước.
Nghiệp vụ huy động vốn của Ngân hàng ngày càng mở rộng đã nâng vị thế và uy tín cho các ngân hàng. Các ngân hàng chủ động quan hệ tín dụng trong hoạt động kinh doanh, mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế và các tổ chức dân cư, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Do đó các ngân hàng thương mại phải căn cứ vào chiến lược, mục tiêu phát triển của đất nước và của địa phương. Từ đó đưa ra các loại hình huy động phù hợp nhất là các nguồn vốn trung, dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nhờ hoạt động huy động vốn của ngân hàng mà toàn bộ nguồn vốn nhàn rỗi hoặc tạm thời nhàn rỗi của các cá nhân, tổ chức được huy động và ngân hàng để phục vụ quá trình vận động của nền kinh tế. Điều đó chứng tỏ các ngân hàng thương mại đã thực sự huy động được sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế vào quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa, dịch vụ. Cấp tín dụng Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Đây là nghiệp vụ trực tiếp mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, nghiệp vụ này của ngân hàng có hiệu quả sẽ nâng cao uy tín của ngân hàng, quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường.
5 c - Cho vay Trong các khoản mục biểu thị cho hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thì khoản mục cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất thường vào khoảng 60% đến 80% tổng tài sản. Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Nguồn để cho vay là các khoản mà ngân hàng huy động được cùng với số vốn tự có của ngân hàng. Thời gian qua, hoạt động cho vay của các NHTM được mở rộng tới tất cả các thành phần kinh tế dưới nhiều hình thức như: cho vay hạn mức, cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, tài trợ dự án ….
Đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận như; thúc đẩy sản xuất, tăng sản lượng trong nền kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm. - Chiết khấu Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. Tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán. - Bảo lãnh ngân hàng Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó NHTM cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc NHTM sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của NHTM khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết.
Khi ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ thay cho khách hàng, khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho NHTM theo thỏa thuận. - Bao thanh toán Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Các hoạt động dịch vụ khác Bên cạnh hai hoạt động chính là huy động và sử dụng vốn thì hoạt động dịch vụ khác như: (Chuyển tiền, ngân hàng điện tử, bảo lãnh, Thanh toán quốc tế, 6 c ngoại hối, đầu tư, thẻ….) cũng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nó vừa đóng vai trò bổ trợ cho hai hoạt động trên đồng thời cũng mang lại uy tín, sức hút và thu nhập đáng kể cho ngân hàng. Tỷ trọng thu nhập từ các hoạt động này đang dần chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu nhập của ngân hàng.
- Hoạt động thanh toán Ngân hàng thực hiện chức năng thanh toán của mình bằng các dịch vụ thông qua việc mở tài khoản cho khách hàng là các cá nhân và các tổ chức. Ngân hàng cung cấp các dịch vụ thanh toán thông qua các hình thức như séc, thẻ, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thư tín dụng… Thông qua việc giải quyết các nhu cầu về thanh toán, chi trả mà các ngân hàng thương mại đã góp phần đáng kể trong việc thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ luân chuyển vốn, tiết kiệm chi phí lưu thông, do đó góp phần tăng trưởng kinh tế. Nền kinh tế thị trường càng phát triển, hoạt động thanh toán ngày càng hoàn thiện và phát huy hiệu quả thì vai trò của ngân hàng thương mại càng được nâng cao. Hoạt động thanh toán cũng là tiền đề để hỗ trợ các hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn cùng phát triển.
Một nền kinh tế phát triển bền vững, một quốc gia ổn định nền tài chính thì càng có hệ thống thanh toán qua ngân hàng phát triển đến mức thanh toán bằng tiền mặt ở thấp nhất. - Các hoạt động khác Ngoài ra, NHTM còn thực hiện nhiều hoạt động khác như quản lý ngân quỹ, kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh vàng, chứng khoán, bảo quản vật có giá, cung cấp các dịch vụ uỷ thác và tư vấn, các dịch vụ bảo hiểm… 2. Vai trò, ý nghĩa của huy động vốn và một số chỉ tiêu đánh giá chất lƣợng huy động vốn Như đã phân tích ở trên khi chế độ lãi suất được thả nổi linh hoạt và sự cạnh tranh khốc liệt giữa các NHTM trong việc tìm kiếm huy động vốn đã dần dần hướng các ngân hàng chú ý đến sự dao động của các tài sản nợ, hay nói cách khác là huy động nguồn để hoạt động. Nguồn vốn có vai trò quan trọng trong việc quyết định quy mô kinh doanh, khả năng sinh lời và các rủi ro tiềm tàng với mỗi ngân hàng.
Huy động vốn nhằm đáp ứng 4 hoạt động cơ bản của NHTM, đó là: 7 c Một là: Huy động vốn để đáp ứng dự trữ bắt buộc; Hai là: Huy động vốn để cho vay; Ba là: Huy động vốn để đáp ứng nhu cầu thanh khoản; Bốn là: Huy động vốn để điều chỉnh kết quả hoạt động kinh doanh.