Chương 1: Giới thiệu chung Chương 2: Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận (LUAN.vung 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.vung CHƢƠNG I. GIỚI THIỆU CHUNG 1. Khái niệm, phân loại và nguyên tắc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên 1. Khái niệm và phân loại tài nguyên thiên nhiên Theo nghĩa rộng, tài nguyên bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, nhiên liệu, năng lượng, thông tin có trên trái đất và trong vũ trụ mà con người có thể sử dụng để phục vụ cho đời sống và sự phát triển của mình.
Theo Tổ chức Thương mại Thế giới, tài nguyên thiên nhiên là nguồn nguyên vật liệu tồn tại tự nhiên trong môi trường, có giá trị trong sản xuất hoặc tiêu thụ (WHO, 2010). Theo khả năng tái tạo, tài nguyên thiên nhiên có thể phân chia thành tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo: - Tài nguyên tái tạo (nước, năng lượng mặt trời, gió, sinh học…): là tài nguyên dựa vào nguồn năng lượng được cung cấp hầu như liên tục từ vũ trụ vào trái đất, hoặc là các nguồn tài nguyên có thể tái sinh trong một thời gian ngắn.Tài nguyên tái tạo là tài nguyên có thể tự duy trì hoặc tự bổ sung một cách liên tục nếu được quản lý, sử dụng một cách hợp lý và khôn ngoan. - Tài nguyên không tái tạo (khoáng sản, nhiên liệu hóa thạch…): là các tài nguyên với một số lượng cố định trong vỏ Trái đất và không thể tự tái sinh bằng các quá trình tự nhiên trong một thời gian ngắn. Mặc dù các tài nguyên này vẫn đang được tạo thành, nhưng các quá trình thành tạo này thường xảy ra rất chậm chạp, trong khoảng thời gian rất dài trong đó có thể tới hàng chục triệu năm, hàng trăm triệu năm.
Như vậy, nói một cách khác, các nguồn tài nguyên không tái tạo là các nguồn tài nguyên tái sinh chậm hơn tốc độ khai thác rất nhiều lần. Nguyên tắc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên Nguyên tắc sử dụng bền vững tài nguyên (Satoyama – Nhật Bản): Sử dụng tài nguyên trong khả năng chống chịu và phục hồi của môi trường; Luân chuyển sử dụng tài nguyên; nhận thức giá trị và tầm quan trọng của truyền thống và văn hóa địa phương; Phối hợp sự tham gia, hợp tác của các bên liên quan; Đóng góp tích cực vào kinh tế - xã hội (Takeuchi, 2010). Nguyên tắc sử dụng bền vững tài nguyên (Australia): Phát triển bền vững hệ sinh thái đảm bảo nguyên tắc quản lý bền vững TNTN và phát triển bền vững; Nâng cao khả năng chống chịu của hệ sinh thái; Đảm bảo nguyên tắc phòng ngừa phải được cân nhắc kỹ lưỡng nhằm giảm thiểu tối đa suy thoái môi trường; Phòng ngừa (LUAN.vung 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.vung suy thoái tài nguyên môi trường luôn hiệu quả hơn khắc phục những hậu quả do suy thoái tài nguyên và môi trường; Chủ sở hữu TNTN chịu trách nhiệm chính trong quản lý bền vững TNTN phù hợp với quy định pháp luật hiện hành; Tham kiến chủ sở hữu TNTN, người quản lý, người sử dụng, người dân bản địa, cộng đồng địa phương và những bên liên quan trong xây dựng các chiến lược phát triển liên quan (NRMMC, 2010). Nguyên tắc bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học (Luật đa dạng sinh học 20/2008/QH12): Bảo tồn đa dạng sinh học là trách nhiệm của Nhà nước và mọi tổ chức, cá nhân; Kết hợp hài hòa giữa bảo tồn với khai thác, sử dụng hợp lý đa dạng sinh học; giữa bảo tồn, khai thác, sử dụng hợp lý đa dạng sinh học với việc xóa đói, giảm nghèo; Bảo tồn tại chỗ là chính, kết hợp giữa bảo tồn tại chỗ và bảo tồn chuyển chỗ; Tổ chức, cá nhân hưởng lợi từ việc khai thác, sử dụng đa dạng sinh học phải chia sẻ lợi ích với các bên có liên quan; bảo đảm hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước với lợi ích của tổ chức cá nhân; dcBảo đảm quản lý rủi ro do sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen gây ra đối với đa dạng sinh học.
Tổng quan tài liệu 1. Tổng quan nghiên cứu về khu vực cửa sông ven biển Việt Nam Việt Nam là nước có đường bờ biển dài trên 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam với hệ thống sông ngòi dày đặc đổ ra biển qua 112 cửa sông, lạch. Hệ sinh thái cửa sông ven biển vô cùng phong phú do khu vực này chịu sự tương tác giữa môi trường nước biển và nước ngọt tạo thành nước lợ, cùng với đó là hoạt động thủy triều tác động mạnh mẽ và liên tục. Tuy nhiên, đây là khu vực nhạy cảm, dễ bị tổn thương bởi những hoạt động cực đoan của thời tiết và hoạt động khai thác tài nguyên của con người.
Đã có nhiều nghiên cứu đối với khu vực cửa sông ven biển Việt Nam về hệ sinh thái, đa dạng sinh học và những tác động tới khu vực này từ phía con người và hoạt động tự nhiên: Một số nghiên cứu về hệ sinh thái, đa dạng sinh học vùng cửa sông, ven biển Việt Nam như: Các hệ sinh thái cửa sông Việt Nam (Vũ Trung Tạng, 1993) là tập hợp các nghiên cứu cấu trúc sinh học vùng cửa sông ven biển thuộc các tỉnh phía Bắc (1972 – 1976), đánh giá tài nguyên thiên nhiên vùng cửa sông ven biển châu thổ Bắc Bộ (1981 – 1985),. Nghiên cứu về đa dạng sinh học vườn quốc gia Xuân Thủy, tỉnh Nam Định (Hoàng Thị Thanh Nhàn, 2012) đã đánh giá hiện trạng và các áp lực tới đa dạng sinh học tại khu vực này; Nghiên cứu ảnh hưởng của việc mở các (LUAN.vung 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.vung cửa biển sau lũ đến sinh thái và tài nguyên sinh vật ở vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế (Võ Văn Phú, 2011). Tổng quan nghiên cứu về sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên Trên thế giới và tại Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên được thực hiện. Phần lớn các công trình này đều tập trung nghiên cứu nhằm đề xuất các giải pháp khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên, một số công trình đã đề xuất được các chỉ số đánh giá tính bền vững trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên.
Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có thể kể đến như sau: Trên thế giới: Sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên là lĩnh vực tương đối mới trên thế giới. Trên thế giới, các nước như Nhật Bản, Đức, Canada, Hoa Kỳ… đã khai thác và sử dụng công nghệ sạch nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Mặt khác, các công nghệ mới được sử dụng nhằm khai thác có hiệu quả kinh tế đối với các loại khoáng sản có chất lượng thấp hơn (nhằm tăng dự trữ của tài nguyên không tái tạo) hoặc sử dụng được tổng hợp các hợp phần có ích khác nhau từ một loại tài nguyên. Nhờ đó đã kìm hãm được sự tăng trưởng âm (nagative growth) đối với tài nguyên không tái tạo do chính quá trình khai thác, sử dụng gây ra.
Bên cạnh đó, nhiều nước còn thay đổi chính sách, luật pháp môi trường và tài nguyên để hạn chế tổn thất tài nguyên, bảo vệ môi trường, nhằm nâng cao nâng cao tính bền vững của sử dụng tài nguyên. Một số mô hình cung cấp bền vững tài nguyên khoáng sản được đề xuất trên cơ sở kinh tế. Mô hình “green mining” cũng được các nhà khoa học Đức, Đài Loan đề xuất, trong đó thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa khai thác, bồi hoàn và bảo vệ môi trường. Bộ Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên Úc và New Zealand đã nêu các nguyên tắc sử dụng bền vững tài nguyên (Natural Resource Management Ministerial Council – NRMMC, 2010).
Một số chỉ số được sử dụng trong khung lý thuyết sinh kế bền vững do Chambers và Conway (1991) đề xuất được sử dụng rộng rãi trên thế giới cũng như ở Việt Nam (Knutsson, 2006; Phạm Văn Cự và nnk, 2011; Võ Hồng Tú và nnk, 2012). Khung sinh kế này bàn về liên hệ giữa bối cảnh dễ bị tổn thương, các loại vốn (vốn con người, vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn vật chất, vốn xã hội), chính sách và thể chế, các chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế (DFID, 1999).vung 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.vung Mô hình sử dụng bền vững tài nguyên dựa trên việc xây dựng xã hội chung sống hài hòa với thiên nhiên và phát thải cacbon thấp cũng được các nhà khoa học Nhật Bản đề xuất (Takeuchi, 2010), trong đó nhấn mạnh 5 nguyên lý cơ bản trong sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên. Trong nghiên cứu của Cissé và nnk (2014), 11 hệ thống ngư trường ven biển quy mô nhỏ ở Guyane, Pháp đã được đánh giá tính bền vững dựa vào 27 chỉ số thuộc các lĩnh vực sinh thái, kinh tế, xã hội và công nghệ. Kết quả đã chỉ ra rằng các hoạt động đánh bắt thủy sản không đồng nhất trong ngư trường thì tính bền vững có thể khác nhau.
Điều này quan trọng trong xác định các vấn đề tiềm năng, thực hiện chính sách quản lý phù hợp vì chỉ một số hoạt động khai thác không bền vững có thể ảnh hưởng đến toàn ngư trường Ault và nnk(2014) đã đánh giá tính bền vững của nghiên cứu tính bền vững của hoạt động khai thác thủy sản cũng ven biểnphía Nam Florida. Tính bền vững của hoạt động khai thác thủy sản là khả năng của số loài bị khai thác có thể sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ bao gồm năng suất mà vẫn duy trì được năng lực sản sinh đủ dự trữ để có thể tiếp tục cung cấp lượng hàng hóa và dịch vụ không đổi tiếp theo không giới hạn thời gian (Ault và nnk, 2008). Tại Việt Nam: Các vấn đề về tài nguyên và bảo vệ môi trường được đề cập đến trong một số đề tài cấp Nhà nước: đề tài KHCN 07 – 12 (Lê Quý An, 2000) nghiên cứu tổng hợp và nghiên cứu các vấn đề về phương pháp luận chung để sử dụng hợp lý và bảo vệ môi trường; đề tài KHCN 07 – 13 (Nguyễn Đức Quý, 2000) nghiên cứu quan điểm chiến lược khai thác sử dụng hợp lý một số tài nguyên quan trọng đang được khai thác mạnh mẽ; đề tài KHCN 07.06 (Đặng Trung Thuận, 2000) nghiên cứu biến động môi trường do khai thác kinh tế và quá trình đô thị hóa gây ra. Trong khuôn khổ các đề tài đề cập đến các biện pháp kiểm soát, làm sạch đảm bảo phát triển bền vững Hạ Long – Quảng Ninh – Hải PHòng; đề tài KHCN 07.