CHƯƠNG 1 QUẢN LÝ RỦI RO ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THẺ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề chung về thẻ 1. Lịch sử phát triển của thẻ Năm 1914 công ty xăng dầu California cấp thẻ cho nhân viên và một số khách hành nhằm khuyến khích bán sản phẩm công ty đó là sự xuất hiện của chiếc thẻ đầu tiên trên thế giới. Năm 1949 một doanh nhân người Mỹ trong một lần đi ăn tối tại một nhà hàng ở NewYork đã phát hiện ra mình không đem theo tiền mặt, khiến ông rất khó xử.
Sau lần khó xử đó ông đã mày mò chế tạo ra 1 phương tiện chi trả có thể thay cho việc đem theo tiền mặt. Ông cho ra đời loại thẻ mang tên “Diners Club” với lệ phí hàng năm là 5 Usd, những người mang theo loại thẻ này có thể ghi nợ khi đi ăn ở 27 nhà hàng ở NewYork đó chính là Mc Namara. Đến năm 1951 đã có 1 triệu Usd được tính nợ và số lượng thẻ ngày càng tăng lên, công ty phát hành thẻ Diner Club nhanh chóng thu được lãi. Do không tiên liệu được khả năng thu lãi hàng tỷ USD của ngành mới, Mc Namara đã bán hết cổ phần của mình cho những người hợp danh là Ralph Schneider và Alfred Bloomingdale vào năm 1953.
Trong hệ thống phát triển thẻ Diner Club của Schneider, các nhà bán lẻ bị tính chiết khấu 5% trên giá trị mỗi món hàng được bán ra. Mặc dù lợi nhuận giảm nhưng người bán lẻ vẫn chấp thuận vì họ hy vọng sẽ có nhiều người tiêu dùng đến mua hàng nhiều hơn nhờ phương tiện này. Những chiếc thẻ Credit Card đầu tiên đã cấp cho những người giàu có và có tiếng tăm trong xã hội tại NewYork. Tuy nó chỉ được sư dụng hạn chế trong 27 nhà hàng sang trọng ở NewYork lúc bấy giờ.
Công ty American Nguyễn Viết Hà 4 Lớp: Tài chính 46Q Luan van Chuyờn đề tốt nghiệp Trường: ĐHKTQD Express cũng theo gót Diner Club cho ra đời chiếc thẻ American Express, vì sự hạn chế chỉ sử dụng trong việc ăn uống du lịch nên loại thẻ này vẫn chưa phổ biến rộng rãi đến mọi tầng lớp xã hội và chưa được xem như là chiếc thẻ thân kỳ (The Magic Card) Khi chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra tất cả các loại thẻ Credit Card và Charge Card đã bị cấm sử dụng, cho đến sau chiến tranh thế giới thứ 2 mới được phổ biến trở lại. Vì lợi tức mag lại từ thẻ tín dụng khá nhiều nên các ngân hàng bắt đầu nhúng tay vào, tuy nhiên nó vẫn chỉ được sử dụng tại các địa phương và các cửa hàng bán lẻ. Cho đến năm 1970 khi mà kỹ thuật điện toán bắt đầu phát triển và hệ thống căn bản cho “The Standards For Magnetic Strip” được hình thành, thì kỹ nghệ Credit card mới thực sự phát triển mạnh mẽ và trở thành một phần của thời kỳ thông tin. Đến năm 1966 Bank American (tiền thân của Visa) bắt đầu liên kết với các ngân hàng ở các tiểu bang khác, trao quyền phát hành thẻ American Card cho các ngân hàng thông qua việc ký các hợp đồng đại lý, khởi đầu cho giai đoạn tăng tốc trong dịch vụ thẻ.
Tới năm 1977 thẻ của Bank of American được chấp nhận trên toàn cầu. Thay vì tên BankAmerican tên thẻ Visa ra đời với màu sắc đặc trưng vẫn là xanh lam, trắng và vàng. Cùng năm 1966 ba nhóm ngân hàng lớn phía đông nước Mỹ quyết định hợp tác thành lập tập đoàn kinh doanh tín dụng riêng, có tên là Interbank Card Association (ICA). Sau này ICA được đổi thành MasterCard, ICA ban hành các quy định về cấp phép giao dịch thanh toán bù trừ, các biện pháp makerting, bảo mật các vấn đề liên quan tới luật pháp nhằm vận hành công việc một cách có hiệu quả.
Năm 1968 ICA bắt đầu mở rộng chiến lược hoạt động kinh doanh trên phạm vi toàn cầu thông qua việc liên kết với ngân hàng Banco National của Mexico. Sau đó ICA tiếp tục tìm kiếm đối tác tại các thị trường châu Âu và cho ra đời thẻ EuroCard. Cũng vào năm 1968 ICA kết nạp Nguyễn Viết Hà 5 Lớp: Tài chính 46Q Luan van Chuyờn đề tốt nghiệp Trường: ĐHKTQD một số thành viên là một số các ngân hàng tại Nhật nhằm từng bước thâm nhập nắm bắt thị trường Đông Á. Bên cạnh những thuận lợi thì trong lịch sử phát triển của lĩnh vực thẻ cũng đã chứng kiến những khó khăn nhất định.
Điển hình phải kể đến sự kiện vào mùa giáng sinh năm 1966 do bất cẩn trong sổ sách, các ngân hàng Chicago đã gửi thẻ tín dụng tràn lan cho các gia đình, ngay cả người chết và trẻ sơ sinh cũng được gửi. Nhiều người đã sử dụng hoặc bán lại các loại chỉ có người có tên trên thẻ tín dụng mới là người chịu trách nhiệm. Vụ thẻ mà họ nhận được một cách vô tội vạ vì họ phát hiện rằng theo pháp luật thì đổ bể đó đã buộc chính phủ phải chấn chỉnh ngành kinh doanh mới mẻ này. Tháng 10/1970 tổng thống Richard Nixon ký một đạo luật cấm những nhà phát hành thẻ không được gửi thẻ cho những ai không có nhu cầu và quy định rằng nếu người mang thẻ báo là bị mất hoặc bị ăn cắp thẻ thì họ sẽ được xoá trách nhiệm thanh toán nợ.
Sau đó pháp luật quy định ngày càng chặt chẽ hơn trong vấn đề thẻ. Ngày nay thẻ đã phát triển và xuất hiện rộng rãi trên toàn thế giới, và trở thành một phương tiện thanh toán phổ biến ở các nước phát triển, các công ty và ngân hàng liên kết với nhau để khai thác lĩnh vực thu nhiều lợi nhuận này. Thẻ dần dần được xem là công cụ văn minh thuận lợi trong các cuộc giao dịch mua bán. Các loại thẻ Master, Visa, Diner Club, JCB, American Express được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu và các loại thẻ này thay nhau phân chia những thị trường rộng lớn.
Khái niệm và Phân loại thẻ 1.1 Khái niệm Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hoá bán lẻ và phát triển gắn liền với sự ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực ngân hàng. Thẻ ngân hàng là công Nguyễn Viết Hà 6 Lớp: Tài chính 46Q Luan van Chuyờn đề tốt nghiệp Trường: ĐHKTQD cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng thanh toán hàng hoá dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp. Thẻ ngân hàng luôn được làm bằng Plastic theo kích cỡ tiêu chuẩn quốc tế và bao gồm các yếu tố: nhãn hiệu thương mại của thẻ, tên và logo của nhà phát hành thẻ, số thẻ, ngày hiệu lực và tên của chủ thẻ. Ngoài ra trên thẻ còn có thể có tên công ty phát hành thẻ hoặc thêm một số yếu tố khác theo tiêu chuẩn của tổ chức tập đoàn thẻ quốc tế.2 Phân loại Hiện nay về lý thuyêt có khá nhiều cách phân loại thẻ nhưng chủ yếu người ta phân loại theo 2 tiêu thức chính : phân loại theo công nghệ sản xuất và phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ: Nếu căn cứ theo công nghệ sản xuất chia làm 3 loại : thẻ in nổi (Embossding Card), thẻ băng từ (Magnetic stripe), thẻ thông minh (Smart Card) Nếu căn cứ vào tính chất thanh toán có thể chia thành : thẻ tín dụng quốc tế (Credit Card) và thẻ ghi nợ (Debit Card).
Ngoài ra người ta còn có thể phân loại theo : phân loại theo phạm vi lãnh thổ, phân loại theo chủ thể phát hành thẻ. Các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh thẻ Hiện nay lĩnh vực thẻ trong một quốc gia có sự tham gia chặt chẽ của 4 thành phần cơ bản là: ngân hàng phát hành thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ, chủ thẻ và các đơn vị chấp nhận thẻ. Đối vởi thẻ quốc tế còn thêm 1 thành phần nữa là các tổ chức thẻ quốc tế. *Chủ thẻ Hiểu một cách đơn giản thì chủ thẻ là người sở hữu hợp pháp chiếc thẻ.
Chủ thẻ là người được ngân hàng, tổ chức thẻ chấp nhận phát hành thẻ trên cơ Nguyễn Viết Hà 7 Lớp: Tài chính 46Q Luan van Chuyờn đề tốt nghiệp Trường: ĐHKTQD sở năng lực tài chính khả năng chi trả của người đó hoặc dựa vào sự bảo lãnh của một tổ chức. Đó cũng có thể là một người được tổ chức uỷ quyền sử dụng thẻ. Chủ thẻ được phép dùng chiếc thẻ để chi tiêu, thanh toán hoặc rút tiền. Mỗi khi thanh toán cho các cơ sở chấp nhận thẻ để mua hàng hoá dịch vụ hoặc trả nợ, chủ thẻ phải xuất trình thẻ để nơi đây kiểm tra theo quy trình và lập biên lai thanh toán.
Đối với thẻ tín dụng sau một khoảng thời gian nhất định tuỳ theo quy định của từng ngân hàng phát hành, chủ thẻ sẽ nhận được sao kê. Sao kê là bản thông báo chi tiết toàn bộ các giao dịch chi tiêu sử dụng thẻ, số dư nợ cuối kỳ, ngày đến hạn thanh toán hoặc số tiền thanh toán tối thiểu bắt buộc, các khoản lãi và phí phát sinh và các thông báo liên quan tới việc sử dụng thẻ. Căn cứ vào thông tin trên sao kê, chủ thẻ sẽ thực hiện thanh toán khoản tín dụng thẻ đã sử dụng cho ngân hàng phát hành thẻ. *Ngân hàng phát hành Ngân hàng phát hành là đơn vị phát hành thẻ cho chủ thẻ.
Ngân hàng phát hành chịu trách nhiệm nhận hồ sơ xin cấp thẻ, xử lý và ra quyết định phát hành thẻ, mở và quản lý tài khoản thẻ, đồng thời thực hiện việc theo dõi chi tiêu, thanh toán cuối cùng với chủ thẻ. Điều kiện bắt buộc không thể thiếu đó là: ngân hàng phát hành phải là thành viên chính thức của tổ chức thẻ quốc tế. Ngân hàng phát hành thẻ phải ký kết với chủ thẻ các điều khoản, điều kiện sử dụng và thanh toán thẻ trên cơ sở pháp luật và những điều khoản chung của các tổ chức thẻ quốc tế. Ngân hàng phát hành có quyền ký kết hợp đồng đại lý với bên thứ ba, là một ngân hàng hoặc tổ chức tài chính tín dụng khác trong việc thanh toán và phát hành thẻ tín dụng.
*Ngân hàng thanh toán Đây là ngân hàng trực tiếp ký hợp đồng với các đơn vị chấp nhận thanh Nguyễn Viết Hà 8 Lớp: Tài chính 46Q Luan van Chuyờn đề tốt nghiệp Trường: ĐHKTQD toán thẻ. Nó giữ vai trò là cầu nối giúp chủ thẻ có thể mua sắm hàng hoá, thanh toán tiền dịch vụ tại đơn vị chấp nhận thẻ đó và giúp đơn vị chấp nhận thẻ thu tiền của chủ thẻ.