Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐTXD HẠ TẦNG KỸ THUẬT CỦA DOANH NGHIỆP TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1 Hoạt động của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường 1. Trong kinh tế thị trường, hoạt động của doanh nghiệp có bản chất đầu tư, sử dụng các nguồn lực tranh giành với các đối thủ nhu cầu của thị trường, những cơ hội, lợi ích phát sinh. Hoạt động của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường bao gồm các giai đoạn: - Nghiên cứu lựa chọn các cặp sản phẩm – khách hàng; - Cạnh tranh vay vốn; - Cạnh tranh mua các yếu tố kinh doanh; - Tổ chức quá trình kinh doanh; - Cạnh tranh bán sản phẩm đầu ra; - Suy tính sử dụng các nguồn thu - Đem các nguồn lực ra đầu tư doanh nghiệp tranh giành được thị phần cụ thể lớn hay nhỏ là tùy thuộc vào năng lực cạnh tranh so với các đồi thủ - vị thế cạnh tranh. Trong kinh tế thị trường, mục đích hoạt động của doanh nghiệp là đạt được hiệu quả cao, bền lâu nhất có thể.
Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp là kết quả tương quan, so sánh những lợi ích do hoạt động của doanh nghiệp đưa lại với những chi phí để được lợi ích đó. Hiệu quả kinh doanh là tiêu chuẩn do con người sáng tạo ra để có cơ sở so sánh, cân nhắc, lựa chọn: đầu tư kinh doanh hay không đầu tư kinh doanh; đầu tư kinh doanh lĩnh vực này hay lĩnh vực khác, các cặp sản phẩm - khách hàng này hay các cặp sản phẩm - khách hang khác với quy mô này hay quy mô khác, lúc này hay lúc khác, ở nơi này hay ở nơi khác…Điều rất quan trọng là phải đánh giá tương đối chính xác hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, nhận diện và biết đầu tư tác động nâng cấp các nhân tố của nó, để đánh gía tương đối chính xác hiệu quả kinh doanh cần: - Chọn đúng bộ chỉ tiêu; - Các dữ liệu đảm bảo chất lượng; - Thống kê đầy đủ các loại lợi ích và quy tính ra tiền tương đối chính xác; - Thống kê đầy đủ các loại chi phí, bóc tách và quy tính ra tiền tương đối chính xác các loại chi phí. - Chọn đúng mốc chuẩn để so sánh… - Để có cơ sở đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp hàng năm sử dụng đồng thời các chỉ tiêu hiệu quả như: Lợi nhuận, Lợi nhuận/Tổng tài sản (ROA), Lãi/Toàn bộ chi phí sinh lãi, Lãi ròng/Vốn chủ sở hữu (ROE). Để đánh giá được tình hình hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cụ thể cần có trọng số Trần Đăng Thuyết 4 CHQTKD 07-09 Đề tài: Một số giải pháp quản lý ĐTXD HTKT công trình khí của PV GAS Việt Nam đến 2010, 2015 của các chỉ tiêu và đo lường, đánh giá từng chỉ tiêu sau khi so sánh với mức độ đạt được của các doanh nghiệp trong ngành và trong khu vực, tính được tốc độ tăng trưởng.
Từ đó theo chúng tôi cần lượng hóa đánh giá bằng cách cho điểm và xếp lại cao hoặc trung bình hoặc thấp như sau: Chỉ tiêu hiệu quả Điểm 1. Lợi nhuận/Tổng tài sản x 100% (ROA) 5-35 3. Lãi/Toàn bộ chi phí sinh lãi x 100% 5-20 4. Lãi ròng/Vốn chủ sở hữu x100% (ROE) 5-15 Hiệu quả cao: 75-100 điểm - Hiệu quả trung bình: 46-74 điểm - Hiệu quả thấp: 20-45 điểm Doanh nghiệp chỉ được coi là phát triển khi hoạt động tăng thêm về chất, các chỉ tiêu chất lượng tăng, nhất là các chỉ tiêu hiệu quả.
Để có cơ sở cho việc định hướng, thiết kế biện pháp nâng cao cần hiểu biết sâu sắc về các yếu tố quyết định. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đạt được cao hay thấp, phụ thuộc vào các yếu tố sau: - Năng lực (Chất lượng) quản lý chiến lược (lãnh đạo) và quản lý điều hành hoạt động doanh nghiệp như: - Mức độ hợp lý (Mức độ đúng đắn) của quyết định chọn lĩnh vực khinh doanh và các cặp sản phẩm – khách hang cụ thể; - Mức độ hợp lý (Chất lượng) của quyết định chọn và đổi mới công nghệ; - Mức độ hợp lý (Chất lượng) của quyết định chọn cơ cấu nguồn vốn và phương thức huy động; - Mức độ hợp lý (Chất lượng) của quyết định chọn mua dùng thiết bị, vật tư, nhân công; - Mức độ hợp lý (Chất lượng) của quyết định chọn cơ cấu và sử dụng tài sản. - Chất lượng quản lý chiến lược và quản lý điều hành hoạt động doanh nghiệp quyết định chủ yếu hiệu quả kinh doanh, nhưng nó lại phụ thuộc vào chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp đó. Chất lượng của đội ngũ giúp việc cho lãnh đạo, quản lý về chuyên môn, nghiệp vụ và đội ngũ thừa hành của doanh nghiệp.
- Chất lượng của nhóm yếu tố này là kết quả của nhiều tác động, trong đó vai trò lớn nhất là vai trò của lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ 21, nâng cao chất lượng của hai đội ngũ càng cao thì càng làm cho hoạt động của doanh nghiệp được nâng cao. Vốn quan hệ, uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp - Thương hiệu càng mạnh, vốn quan hệ, uy tín càng nhiều, càng thuận lợi trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Trần Đăng Thuyết 5 CHQTKD 07-09 Đề tài: Một số giải pháp quản lý ĐTXD HTKT công trình khí của PV GAS Việt Nam đến 2010, 2015 4.
Mức độ thuận lợi của môi trường kinh doanh (Trình độ- Chất luợng quản lý vĩ mô): - Là mức độ đồng bộ và sắc sảo của hệ thống luât pháp nhà nước và mức độ sát hợp, hấp dẫn của chính sách –hành chính của chính phủ. - Trong trường hợp chính sách trích thu để hoàn chi cho hoạt động vĩ mô chưa hoàn toàn hợp lý thì khi môi trường kinh doanh thuận lợi hơn sẽ làm cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động dễ dàng hơn. Mức độ thuận lợi của cơ sở hạ tầng về mặt kỹ thuật và hạ tầng về mặt xã hội. - Trong trường hợp chính sách thu để hoàn chi cho cơ sở hạ tầng chưa hoàn toàn hợp lý, khi cơ sở hạ tầng về mặt kỹ thuật và hạ tầng về mặt xã hội thuận lợi hơn thường làm cho việc nâng cao hiệu quả doanh nghiệp dễ dàng hơn.
Mức độ ưu đãi của tài nguyên thiên nhiên. - Trong trường chính sách thuế tài nguyên chưa hợp lý thì doanh nghiệp đóng ở nơi ưu đãi hơn sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động dễ dàng hơn. - Nhóm các yếu tố 4, 5, 6 thuộc về quản lý nhà nước trung ương và nhà nước địa phương. - Như vậy hiệu quả của hoạt động doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào trình độ - chất lượng quản lý của bản thân doanh nghiệp, vào trình độ- chất lượng quản lý nhà nước trung ương và nhà nước địa phương.
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chỉ cao khi đa số hoặc tất cả 6 nhóm yếu tố trên đạt mức cao.2 Đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật của doanh nghiệp Đầu tư là một phạm trù đặc biệt đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Trong hoạt động kinh tế, đầu tư mang bản chất kinh tế, đó là quá trình bỏ vốn vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận. Có thể hiểu đầu tư là việc đưa một lượng vốn nhất định vào quá trình hoạt động kinh tế nhằm thu lại lượng vốn lớn hơn sau một thời gian nhất định. Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Có nhiều cách phân loại hoạt động đầu tư, chẳng hạn theo tiêu thức quan hệ quản lý của chủ đầu tư, có hai loại: Đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Trong đó, đầu tư trực tiếp là hình thức người chủ đầu tư trực tiếp bỏ vốn và nguồn lực để quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư gián tiếp là hình thức người chủ đầu tư không tham gia trực tiếp vào hoạt động đầu tư mà thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu, đầu tư tài chính vào các doanh nghiệp khác…. nhằm tăng thu nhập, lợi nhuận của mình.
Tóm lại, có thể hiểu đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực hiện tại, để tiến hành các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu nhất định trong tương lai. Trần Đăng Thuyết 6 CHQTKD 07-09 Đề tài: Một số giải pháp quản lý ĐTXD HTKT công trình khí của PV GAS Việt Nam đến 2010, 2015 1)Vai trò của đầu tư cho phát triển kinh doanh của doanh nghiệp: Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng phức tạp, khi các thị trường ngày càng mở rộng nhưng đồng thời cũng bị thu hẹp và rút ngắn lại thì thực tiễn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn cải thiện sản phẩm của mình hoặc đầu tư để sản xuất sản phẩm mới có chất lượng, giá trị cao hơn…. Vì vậy, đầu tư là hoạt động chủ yếu, quyết định sự phát triển và khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp. Trong hoạt động đầu tư, doanh nghiệp thường bỏ vốn dài hạn nhằm hình thành và bổ sung những tài sản cần thiết để thực hiện những mục tiêu kinh doanh.
Hoạt động này được thực hiện tập trung thông qua việc thực hiện các dự án đầu tư. Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động kinh tế đặc thù với mục tiêu, phương pháp và phương tiện cụ thể để đạt tới một trạng thái mong muốn. Nội dung của dự án đầu tư được thể hiện trong luận chứng kinh tế - kỹ thuật, là văn bản phản ánh trung thực, chính xác về kết quả nghiên cứu thị trường, môi trường kinh tế - kỹ thuật cũng nhưng môi trường pháp lý, và tình hình tài chính. Để đáp ứng mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu, doanh nghiệp cần có chiến lược trong việc tìm kiếm và lựa chọn các dự án đầu tư.
Nếu không có những ý tưởng mới và dự án đầu tư mới, doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại và phát triển được. Các doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ thị trường và có những hoạt động đầu tư thích hợp nhằm gia tăng khả năng cạnh tranh cho sản phẩm của doanh nghiệp. Tùy theo mục đích của mỗi doanh nghiệp nhằm phát triển sản phẩm mới, kéo dài tuổi thọ sản phẩm hay làm tăng khả năng thu lợi cho sản phẩm hiện có mà có thể phân loại đầu tư doanh nghiệp theo tiêu thức khác nhau.