MỞ ĐẦU Ngày nay, sự phát triển mạnh của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ đã đưa nền kinh tế, xã hội của nước ta phát triển mạnh mẽ, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, xã hội là các vấn đề nỏng bỏng mà hậu quả của nó đã và đang gây ra khiến chúng ta không thể không quan tâm. Vấn đề thường xuyên được đưa ra bàn luận và luôn được đặc biệt quan tâm bởi mức độ nghiêm trọng và tính cấp thiết của nó, đó chính là vấn đề ô nhiễm môi trường. Cùng với sự phát triển về kinh tế, xã hội, tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh, vấn đề chất thải rắn, đặc biệt là chất thải rắn sinh hoạt và chất thải rắn nguy hại từ bệnh viện, khu công nghiệp, các nhà máy, cơ sở sản xuất, làng nghề,… đã thực sự trở thành một vấn đề nóng bỏng, ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sống của chúng ta.
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách đầu tư cho quản lý chất thải rắn. Tuy nhiên, trên thực tế mới tập trung đầu tư chủ yếu cho các thành phố, đô thị và các khu công nghiệp. Trong những năm gần đây, cùng với chủ trương xây dựng nông thôn mới, vấn đề quản lý chất thải rắn mà đặc biệt là chất thải rắn sinh hoạt đã quan tâm và đưa vào như một chỉ tiêu để xây dựng nông thôn mới, thì chính sách này thực sự thiết thực và có ý nghĩa to lớn. Theo quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, huyện Ba Vì được định hướng là đô thị vệ tinh phát triển theo hướng văn hóa lịch sử, du lịch sinh thái và tâm linh, hỗ trợ phát triển cho khu vực nông thôn nằm trong hành lang xanh của thành phố.
Trước thực trạng đô thị hóa nhanh chóng hiện nay, ranh giới giữa nông thôn và thành thị không còn rõ ràng. Sự thay đổi nhanh cả về số lượng và thành phần của chất thải rắn. Ngày nay, chất thải rắn sinh hoạt đã và đang trở thành mối quan tâm lớn của địa phương trước thực trạng ra tăng nhanh về số lượng, phức tạp về thành phần và thiếu kinh nghiệm trong quản lý. Nhận thấy được tính cần thiết phải xây dựng mô hình quản lý và phương pháp xử lý hiệu quả phù hợp với thực tế.
Do vậy, đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội” là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao, kết quả của đề tài sẽ giúp cho những nhà quản lý tham khảo để đưa ra các quyết định phù hợp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn trên địa bàn huyện Ba Vì nhằm giảm thiểu các tác động tới môi trường và sức khỏe cộng đồng. Chƣơng 1 TỔNG QUAN QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN 1. Tình hình quản lý, xử lý chất thải rắn trên thế giới 1. Mức độ phát sinh Đô thị hóa và phát triển kinh tế thường đi đôi với mức tiêu thụ tài nguyên và tỷ lệ phát sinh chất thải rắn tăng lên tính theo đầu người.
Mức độ đô thị hóa cao thì lượng chất thải tăng lên theo đầu người, ví dụ cụ thể một số nước hiện nay như sau: Canada là 1,7 kg/người/ngày; Australia là 1,6 kg/người/ngày; Thụy Sỹ là 1,3 kg/người/ngày; Trung Quốc là 1,3 kg/người/ngày. Dân thành thị ở các nước phát triển phát sinh chất thải nhiều hơn ở các nước đang phát triển gấp 4 lần, cụ thể ở các nước phát triển là 2,8 kg/người/ngày; Ở các nước đang phát triển là 0,7 kg/người/ngày [14]. Tiêu chuẩn tạo rác trung bình theo đầu người đối với từng loại chất thải mang tính đặc thù của từng địa phương và phụ thuộc vào mức sống, văn minh, dân cư ở mỗi khu vực. Tuy nhiên, dù ở khu vực nào cũng có xu hướng chung của Thế giới là mức sống càng cao thì lượng chất thải phát sinh càng nhiều.
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ phát sinh chất thải rắn tại các thành phố lớn như New York là 1,8 kg/người/ngày, Hàn Quốc là 1,79 kg/người/ngày, Nhật Bản là 1,67 kg/người/ngày, Singapore và Hồng Kông là 1,0 - 1,3 kg/người/ngày [14]. Thể hiện cụ thể qua Bảng 1. Lƣợng phát sinh chất thải rắn đô thị ở một số Quốc gia Lƣợng phát sinh CTR đô Dân số đô thị hiện Tên nƣớc thị hiện nay nay (% tổng số) (kg/ngƣời/ngày) Nƣớc thu nhập thấp 15,92 0,60 Nepal 13,70 0,70 Bangladesh 18,30 0,69 Việt Nam 20,80 0,75 Ấn Độ 26,80 0,66 Nƣớc thu nhập trung bình 40,80 0,99 Indonesia 35,40 0,96 Philippines 54,00 0,72 Thái Lan 20,00 1,30 Malaysia 53,70 1,1 Nƣớc có thu nhập cao 86,3 1,59 Hàn Quốc 81,30 1,79 Singapore 100,00 1,30 Nhật Bản 77,60 1,67 (Dự án Danida (2007), Nâng cao năng lực quy hoạch và quản lý môi trường đô thị, NXB Đại học Kiến trúc, Hà Nội) [14]. Thu gom, lưu trữ, vận chuyển CTRSH Trên Thế giới, các nước phát triển đã có những mô hình phân loại và thu gom rác thải rất hiệu quả.
Tại các nước phát triển quá trình phân loại rác tại nguồn đã diễn ra cách đây 30 - 40 năm và đến nay hầu hết đã đi vào nền nếp. Ở mức độ thấp, rác thải được tách thành 2 loại là hữu cơ dễ phân huỷ và loại khó phân huỷ. Ở mức độ cao hơn, rác được tách thành 3 hay nhiều loại hơn nữa ngay từ hộ gia đình hoặc ở các điểm tập kết trong khu dân cư. Nhờ đó công tác tái chế rác thải đạt hiệu quả cao hơn, tốn ít chi phí hơn.
Nhưng sự thành công của việc sử dụng lại và tái chế chất thải là kết quả của ba yếu tố có liên quan mật thiết với nhau. Nhật Bản: Các gia đình Nhật Bản đã phân loại chất thải thành 3 loại riêng biệt và cho vào 3 túi với màu sắc khác nhau theo quy định: rác hữu cơ, rác vô cơ, giấy, vải, thủy tinh, rác kim loại. Rác hữu cơ được đưa đến nhà máy xử lý rác thải để sản xuất phân vi sinh. Tại đây, rác được đưa đến hầm ủ có nắp đậy và được chảy trong một dòng nước có thổi khí rất mạnh vào các chất hữu cơ và phân giải chúng một cách triệt để.
Sau quá trình xử lý đó, rác chỉ còn như một hạt cát mịn và nước thải giảm ô nhiễm. Các cặn rác không còn mùi sẽ được nén thành các viên gạch lát vỉa hè rất xốp, chúng có tác dụng hút nước khi trời mưa [13]. Mỹ: Hàng năm, rác thải sinh hoạt của các thành phố ở Mỹ lên tới 210 triệu tấn. Tính bình quân mỗi người dân Mỹ thải ra 2 kg rác/ngày.
Hầu như thành phần các loại rác thải trên đất nước Mỹ không có sự chênh lệch quá lớn về tỷ lệ, cao nhất không phải là thành phần hữu cơ như các nước khác mà là thành phần chất thải vô cơ (giấy các loại chiếm đến 38%), điều này cũng dễ lý giải đối với nhịp điệu phát triển và tập quán của người Mỹ là việc thường xuyên sử dụng các loại đồ hộp, thực phẩm ăn sẵn cùng các vật liệu có nguồn gốc vô cơ. Trong thành phần các loại rác sinh hoạt thì thực phẩm chỉ chiếm 10,4% và tỷ lệ kim loại cũng khá cao là 7,7% [13]. Singapore: Đây là nước đô thị hóa 100% và là đô thị sạch nhất trên thế giới. Để có được kết quả như vậy, Singapore đầu tư cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý đồng thời xây dựng một hệ thống luật pháp nghiêm khắc làm tiền đề cho quá trình xử lý rác thải tốt hơn.
Các chất thải có thể tái chế được, được đưa về các nhà máy tái chế còn các loại chất thải khác được đưa về nhà máy khác để thiêu hủy. Ở Singapore có 2 thành phần chính tham gia vào thu gom và xử lý các rác thải sinh hoạt từ các khu dân cư và công ty, hơn 300 công ty tư nhân chuyên thu gom rác thải công nghiệp và thương mại [13]. Quá trình xử lý CTRSH Hiện nay có rất nhiều phương pháp khác nhau để xử lý rác thải như: công nghệ sinh học, công nghệ sử dụng nhiệt, công nghệ Seraphin,. Tỷ lệ rác thải được xử lý theo phương pháp khác nhau của một số nước trên thế giới được giới thiệu ở bảng sau: Bảng 1.
Tỷ lệ CTR xử lý bằng các phƣơng pháp khác nhau ở một số nƣớc Chế biến phân STT Nƣớc Tái chế % Chôn lấp % Đốt % vi sinh % 1 Canada 10 2 80 8 2 Đan Mạch 19 4 29 48 3 Phần Lan 15 0 83 2 4 Pháp 3 1 54 42 5 Đức 16 2 46 36 6 Ý 3 3 74 20 7 Thụy Điển 16 34 47 3 8 Thụy Sĩ 22 2 17 59 9 Mỹ 15 2 67 16 (Đỗ Thị Lan, Nguyễn Tuấn Anh và Nguyễn Thế Hùng (2008), Giáo trình phân tích môi trường, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội)[18] 1. Hiện trạng quản lý chất thải rắn ở Việt Nam 1. Chất thải rắn Chất thải rắn là tất cả các chất thải phát sinh do hoạt động sống của con người và động vật tồn tại ở dạng rắn được thải bỏ khi không còn hữu dụng hay không muốn sử dụng nữa [20]. Nguồn phát sinh, thành phần CTRSH 1.
Hiện trạng phát sinh CTRSH Các dạng chất thải phát sinh từ những nguồn khác nhau được trình bày tóm tắt trong Bảng 1. Các dạng chất thải phát sinh từ những nguồn khác nhau Nguồn phát Nơi phát sinh Các dạng chất thải rắn sinh Khu dân cư Hộ gia đình, biệt thự, Thực phẩm dư thừa, bao bì hàng hoá chung cư (bằng giấy, gỗ, vải, da, cao su, PE, PP, thiếc, nhôm, thủy tinh,…), tro, đồ dùng điện tử, vật dụng hư hỏng (đồ gia dụng, bóng đèn, đồ nhựa, thủy tinh,…), chất thải độc hại như chất tẩy rửa (bột giặt, chất tẩy trắng,…), thuốc diệt côn trùng, nước xịt phòng bám trên rác thải. Khu thương mại Nhà kho, nhà hàng, chợ, Giấy, nhựa, thực phẩm thừa, thủy tinh, khách sạn, nhà trọ, các kim loại, chất thải nguy hại,… trạm sửa chữa, bảo hành và dịch vụ. Cơ quan, công sở Trường học, bệnh viện, văn Giấy, nhựa, thực phẩm thừa, thủy tinh, phòng cơ quan chính phủ.
kim loại, chất thải nguy hại,… Công trình xây Khu nhà xây dựng mới, sửa Xà bần, sắt thép vụn, vôi vữa, gạch vỡ, dựng chữa nâng cấp mở rộng bê tông, gỗ, ống dẫn,… đường phố, cao ốc, san nền xây dựng.