Chương 1: Thực trạng công tác quản lý chất lượng tại Ban quản lý dự án huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Chương 2: Cơ sở pháp lý và cơ sở khoa học về quản lý chất lượng công trình xây dựng. Chương 3: Giải pháp quản lý chất lượng công trình tại Ban quản lý dự án huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. 4 NOI DU! CHUONG 1: THUC TRANG CONG TAC QUAN LY CHAT LUQNG TAI BAN QUẦN LÝ DỰ ÁN HUYỆN GIÁ LÂM, THÀNH PHÓ HÀ NỘI 1.
Thực trạng quản lý chất lượng công trình xây dựng trên thế giới Vai trò của chất lượng và quản lý chất lượng đã bắt đầu được quan tâm nghiên cứu và phát triển ngay từ những thập kỷ đầu của thé ky XX. Những ứng dụng đầu tiên đã được triển khai trong các cơ sở quân sự ở Mỹ, sau đó mở rộng sang lĩnh vực sản xuất công nghiệp tại Nhật Bản, rồi tiếp đó phát triển ra nhiều nước trên thế giới vào những năm 70 của thế kỷ trước. Việc áp dụng quản lý chất lượng trong khu vực dịch vụ dường như đi sau một bước so với khu vực công nghiệp bởi những khác biệt đặc trưng của hai lĩnh vực này. Tuy nhiên, việc áp dụng những nguyên tắc quản lý chất lượng trong dịch vụ đã mang lại cho các cơ quan nhiễu lợi ích quan trọng.
Theo định nghĩa của tiêu chuẩn ISO 9001:2005, Quản lý chất lượng là "hoạt đông tương tác và phối hợp lẫn nhau nhằm định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng". Hoạt động quản lý chất lượng bao gồm việc thiết lập chính sách và mục tiêu chất lượng; hoạch định chất lượng; kiểm soát chất lượng; đảm bảo chất lượng và cải tiền chất lượng. 'Về nguyên tắc, quản lý chất lượng được thực hiện theo hai phương thức, cũng có thể gọi là hai trường phái cơ bản: Trường phái thứ nhất là quán lý chất lượng trên cơ sở tiêu chuẩn hóa. phái này được phát triển mạnh ở Mỹ và châu Âu thông qua các tiêu chuẩn quốc tế như ISO 9000, ISO 14000, HACCP, GMP v.
Lợi thế của tiêu chuẩn là: Chi cần áp dụng. một tiêu chuẩn, thử nghiệm hay đánh giá một lần thì có thể được thừa nhận trên toàn thế giới. Cho nên tiêu chuẩn được sử dụng để ký kết hợp đồng, để công nhận và thừa nhận lẫn nhau trong hội nhập khu vực và quốc tế. Vì vậy chỉ riêng tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2000 đã có trên 800.000 doanh nghiệp áp dụng và được chứng nhận.
Nước đứng đầu thế giới hiện nay về áp dụng ISO 9000 là Trung Quốc (khoảng 160. Cốt lõi của trường phái quản lý này là áp dụng tiêu chuẩn hệ thống chất lượng và bằng mọi cách buộc con người phải tuân thủ tiêu chuẩn để chuyên môn hóa 5 nhằm đạt tăng năng suất hoặc để đảm bảo chất lượng theo những tiêu chí nhất định. Trường phái này có sự ảnh hưởng và chỉ phối của học thuyết Taylor về chuyên môn hóa sản xuất. Học thuyết Taylor đã tạo ra một cuộc cách mạng về năng suất ở Mỹ từ những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 20.
Nhưng 50 năm sau người ta mới nhận thấy học thuyết này có một nhược điểm rất lớn là nó đã giết chết tính sáng tạo của hàng triệu người lao động chỉ vì người ta phải chú tâm tuân thủ các tiêu chuẩn trong sản xuất hàng ngày. Trường phái thứ hai là quản lý chất lượng toàn điện (TOM) theo phương cách Nhật Bán được khởi xướng ở Nhật Bản từ sau chiến tranh thề giới lần thứ II trên cơ sở học thuyết của Tiền sỹ Deming và sau đó là Juran đều là người Mỹ. Điểm cốt lôi của TQM theo phương cách Nhật Bản là quản lý chất lượng không xem nhẹ tiêu chuẩn hóa nhưng không đặt trọng tâm vào tiêu chuẩn hóa mà lại đặt trọng tâm vào con người. Nếu như trường phái thứ nhất chú trọng vào việc kiểm tra đạt yêu cầu đặt ra trong các tiêu chuẩn thì trường phái thứ hai của Nhật Bản chỉ coi các yêu cầu này là cái tối thiểu phải đạt.
Từ đó, bằng nhiều cách, Nhật Bản đã biết huy động con người phát huy sáng kiến, cải tiền thường xuyên chất lượng sản phẩm và dịch vụ để chất lượng của họ ngày hôm nay phải tốt hơn ngày hôm qua và ngày mai sẽ tốt hơn ngày hôm nay. Người công nhân ở đây làm việc với một cái đầu biết suy nghĩ cải tiền chứ không chỉ đơn thuần như một bộ phân hay chỉ tiết của máy móc hay quá trình công nghệ. TQM hiện được coi là hình thức “tiến hoá” cao nhất của quản lý chất lượng, được định nghĩa như là những hoạt động quản lý có sự tham gia tích cực của tất cả các nhân viên của một cơ quan hay tổ chức trong các hoạt động của cơ quan, tổ chức đó nhằm đạt được chất lượng với chỉ phí thấp nhất. Trong giai đoạn phát triển này, chất lượng cần được không ngừng cải tiến, nâng cao dựa trên những nguyên tắc cơ bản như định hướng khách hàng, huấn luyện nhân viên về quản lý chất lượng, khả năng lãnh đạo của người quản lý, xây dựng kế hoạch chiến lược, quản lý quy trình hoạt động, và đánh giá chất lượng hoạt động.
Vao những năm 1940-1950, TQM được phát triển tại Mỹ, nhưng vì có quá nhiều lãnh đạo doanh nghiệp Mỹ hiểu sai nên TM không phỏ biển tại Mỹ. 6 Người Nhật đã tiếp thu TQM của người Mỹ và 30 năm sau khi ap dung TQM tir Mỹ hàng hóa của Nhật đã ngập tràn thế giới và gây ảnh hưởng tới nền công nghiệp Mỹ, lúc này người Mỹ bắt đầu tỉnh ngộ và tiến hành cải tiến TỌM để áp dụng cho tinh hình thực tiễn trong nước. Thực trạng quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Việt Nam 1. Thực trạng quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Việt Nam Trước năm 1990 nền kinh tế của chúng ta bắt đầu có những chuyển biến từ sản xuất theo kế hoạch nhà nước sang cơ chế quản lý theo thị trường.
Công tác Quản lý chất lượng đã có những bước chuyển đổi nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của thời kì trước. Trong thời kì này với suy nghĩ để cho sản phẩm đảm bảo chất lượng thì bên cạnh hệ thống quản lý sản xuất, điều hành kế hoạch mỗi cơ sở sản xuất còn hình thành nên một tổ chức quản lý chất lượng phòng KCS. Tuy nhiên, mong muốn này đã không thành hiện thực Tir sau nim 1990 trở lại đây, cùng với yêu cầu của thị trường trong nước cũng. như ngoài nước bắt buộc việc sản xuất phải đổi mới về công nghệ, các tiêu chuẩn kiểm soát chất lượng, quy trình quản lý.
vì vậy đội ngũ lao động được đảo tạo và quản lý một cách bài bản hơn, chuyên nghiệp hơn, hiệu quả hơn thời kì trước, đáp ứng các yêu cầu của kinh tế thị trường đặc biệt là đối với ngành xây dựng. Công trình xây dựng là một sản phẩm hàng hóa đặc biệt phục vụ cho sản xuất và các yêu cầu của đời sống con người. Hàng năm vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, của doanh nghiệp của người dân dành cho xây dựng là rất lớn, chiếm từ 25 - 30% GDP. Vì vậy, CLCTXD là vấn đề cần được hết sức quan tâm, nó có tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững, hiệu quả kinh tế, đời sống của con người.
Trong thời gian qua, công tác quản lý CLCTXD - yếu tố quan trọng quyết định đến CLCTXD đã có nhiều tiến bộ. Với sự tăng nhanh và trình độ được nâng cao của đội ngũ cán bộ quản lý, sự lớn mạnh của đội ngũ công nhân các ngành nghề xây dựng, 7 với việc sử dụng vật liệu mới có chất lượng cao, việc đầu tư thiết bi thi công hiện đại, sự hợp tác học tập kinh nghiệm của các nước có nền công nghiệp xây dựng phát triển cùng với việc ban hành các chính sách, các văn bản pháp quy tăng cường công tác quản lý CLCTXD, chúng ta đã xây dựng được nhiều công trình xây dựng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi. góp phần quan trong vào hiệu quả của nền kinh tế quốc dân, xây dựng hàng triệu m2 nhà ở, hàng vạn trường học, công trình văn hóa, thể thao.thiết thực phục vụ và nâng cao đời sống của nhân dân. 'Tuy nhiên, bên cạnh những công trình đạt chất lượng, cũng còn không ít công trình có chất lượng kém, không đáp ứng được yêu cầu sử dụng, công trình nứt, vỡ, lún sụt, thấm dột, bong độp đưa vào sử dụng thời gian ngắn đã hư hỏng gây tốn kém, phải sửa chữa, phá đi làm lại.
Đã thế, nhiều công trình không tiền hành bảo trì hoặc bảo trì không đúng định kỳ làm giảm tuổi thọ công trình. Cá biệt ở một số công trình gây sự có làm thiệt hai rất lớn đến tiền của và tính mạng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư. CLCTXD là vấn đề hết sức quan trọng, nó có tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế, đời sống của con người và sự phát triển bền vững. Đặc biệt ở nước ta vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân chiếm tỷ trọng rất lớn trong thu nhập quốc dân, cả nước là một công trình xây dựng.
Vì vậy, để tăng cường QLDA, CLCTXD, các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương đã: - Ban hành các văn bản pháp quy như luật, nghị định, thông tư, các tiêu chuẩn, quy phạm xây dựng nhằm tạo ra môi trường pháp lý cho việc tổ chức thực hiện quản lý CLCTXD. ~ Đề ra các chủ trương, chính sách khuyến khích đầu tư trang thiết bị hiện đại, sản xuất vật liệu mới, nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học trong xây dựng, đào tạo cán bộ, công nhân nhằm nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu quản lý đầu tư xây dựng nói chung và quản lý CLCTXD nói riêng. ~ Tăng cường quản lý chất lượng thông qua các tổ chức chuyên lo về chất lượng. tại các hội đồng nghiệm thu các cá , các cục giám định chất lượng, phòng giám định.
8 ~ Có chính sách khuyến khích các đơn vị, tổ chức thực hiện theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000, tuyên dương các đơn vị đăng ký và đạt công trình huy chương vàng chất lượng cao của ngành, công trình chất lượng tiêu biểu của liên ngành. Phải thấy ri với những văn bản pháp quy, các chủ trương chính sách, biện pháp quản lý đó về cơ bản đã đủ điều kiện để quản lý CLCTXD.