Đặt vấn đề Điện Biên là một tỉnh miền núi biên giới phía Tây Bắc, người dân chủ yếu sống bằng nghề nông.Nền sản xuất nông nghiệp của tỉnh Điện Biên hiện nay chủ yếu vẫn là trồng trọt và chăn nuôi.Trong đó chăn nuôi trâu, bò vẫn giữ vai trò quan trọng, nhằm mục đích cung cấp thực phẩm, sức kéo, phân bón phục vụ cho ngành trồng trọt. Tuy nhu cầu về sức kéo đã giảm, do có máy móc cơ khí nhỏ đang thay thế dần trong các khâu sản xuất nhưng nhu cầu tiêu dùng thực phẩm lại tăng rất nhanh. Vì vậy chủ trương của tỉnh, các huyện và các xã trong những năm tới vẫn xác định tiếp tục phát triển chăn nuôi trâu, bò nhất là đàn bò thịt. Xã Quài Nưa - huyện Tuần Giáo được coi là xã thuần nông của tỉnh Điện Biên, xã có diện tích đất thích hợp cho trồng cỏ và các bãi chăn thả cho trâu, bò, đó là những lợi thế cho phát triển chăn nuôi trâu bò của xã.
Khi mức sống của người dân tăng lên thì nhu cầu về sử dụng thực phẩm sạch đang là vấn đề mà xã hội quan tâm, do đó ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn bò nói riêng phải tạo ra số lượng thịt nhiều và chất lượng cao. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra trong ngành nuôi chăn bò. Với hình thức chăn nuôi công nghiệp tập trung hiện nay thì bệnh dịch xuất hiện ngày một nhiều, gây ra những thiệt hại không nhỏ. Một số bệnh bò hay mắc như: lở mồm long móng, bệnh ký sinh trùng, chướng hơi dạ cỏ, viêm tử cung, viêm vú, ngộ độc thức ăn.
đã gây thiệt hại kinh tế lớn, mầm bệnh tồn tại lâu trong cơ thể bò cũng như ngoài môi trường làm cho công tác phòng bệnh gặp khó khăn, khi bị nhiễm bệnh chi phí điều trị lớn, thời gian điều trị lâu dài. Xuất phát từ những vấn đề trên chúng em tiến hành h 2 thực hiện chuyên đề: “Áp dụng một số giải pháp phòng trừ dịch bệnh tổng hợp cho đàn bò tại xã Quài Nưa - huyện Tuần Giáo - tỉnh Điện Biên”. Mục tiêu của chuyên đề - Đánh giá tình hình chăn nuôi bò tại xã Quài Nưa. - Xác định tình hình mắc bệnh trên đàn bò nuôi tại Quài Nưa để đưa ra biện pháp phòng trị bệnh thích hợp.
- Đưa ra phác đồ điều trị có hiệu lực cao và an toàn đối với bò. Ý nghĩa của chuyên đề - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu: Kết quả của chuyên đề là những thông tin khoa học bổ sung và làm sáng tỏ hơn những yếu tố liên quan đến những phương pháp phòng và trị bệnh cho đàn bò tại xã. - Ý nghĩa trong thực tiễn: Giúp người chăn nuôi biết được về những dịch bệnh có thể xảy ra, biện pháp phòng và từ đó đề ra các giải pháp phát triển nghề chăn nuôi trâu, bò tại xã Quài Nưa - huyện Tuần Giáo - tỉnh Điện Biên. h 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Nội dung tiến hành Xã Quài Nưa là một xã thuần nông với diện tích đất tự nhiên là 3.912,92 ha, diện tích đất nông nghiệp chiếm 1/3 rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp. Như vậy đất canh tác nông nghiệp không chỉ để trồng cây lương thực, mà còn sử dụng chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm, ngoài ra còn cung cấp các loại phụ phẩm làm nguồn thức ăn quan trọng cho trâu, bò như: Rơm, thân cây ngô…. vào mùa khô.
Nếu như tận dụng triệt để thì đây là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển ngành chăn nuôi của xã. Tình hình sử dụng đất đai của xã trong 3 năm gần dây được trình bày trong bảng 2. Phân bổ sử dụng đất canh tác xã Quài Nưa Loại đất 2014 2016 2017 2018 Diện tích tự nhiên 3.912,92 Đất canh tác nông nghiệp 1.820,05 Đất lâm nghiệp 1.237,60 Đất thổ cư 129,94 139,94 149,94 150,10 Đất chưa sử dụng 1023,12 871,35 728,51 704,17 Ở xã Quài Nưa trong 3 năm diện tích đất từ 2014 - 2018 đất canh tác nông nghiệp tăng 239,16ha, đất lâm nghiệp tăng 58,63ha, đất thổ cư tăng 20,16 ha, trong đó đất chưa sử dụng giảm mạnh do người dân khai hoang, mở rộng đất cũng như tốc độ gia tăng dân số đã làm cho nguồn đất chưa sử dụng ngày càng giảm. Tình hình sản xuất nông nghiệp của xã Quài Nưa +Trồng trọt Trồng trọt là ngành sản xuất chính cung cấp lương thực cho con người và vật nuôi của xã Quài Nưa.
Người dân trong xã chủ yếu canh tác các loại cây trồng chính là: Lúa, ngô, lạc, đậu tương, sắn. Bên cạnh đó trồng các loại rau phục vụ đời sống cho gia đình như: rau cải ngọt, rau muống…nhưng với diện tích không nhiều. Cơ cấu cây trồng của xã Quài Nưa được trình bày trong bảng 2. Cơ cấu cây trồng của xã Quài Nưa năm 2018 Năm 2018 Loại cây Diện tích Năng suất Sản lượng (ha) (tạ/ha) (tấn) Lúa mùa 245 50 1225 Lúa Chiêm xuân 161 60 966 Lúa nương 51 13 66,3 Ngô 150 26 390 Sắn 120 65 780 Đậu tương 102 13 132,6 Lạc 63 9 56,7 Rau các loại 43 15 63 Lúa là cây lương thực chính của con người và được trồng với diện tích 457ha và tổng sản lượng đạt 2257,3 tấn.
Ngô cũng được trồng với diện tích tương đối lớn chủ yếu là quanh nhà và trên những quả đồi với diện tích:150 ha và sản lượng đạt 390 tấn. Sắn được trồng với diện tích 120 ha và sản lượng đạt là 780 tấn. Sắn cũng được trồng chủ yếu ở các vườn và trên những quả đồi. Cây đỗ tương và cây lạc cũng được trồng với diện tích lớn.
Ngoài ra một số loại rau cũng được người dân trồng, nhưng nhỏ lẻ ở vườn của từng hộ gia đình. Nhìn chung, năng suất và sản lượng lương thực của xã Quài Nưa dã có thể đáp ứng được nhu cầu lương thực trong xã, ngoài ra còn thu được nguồn phụ phẩm lớn từ cây lương thực trên làm nguồn thức ăn cho trâu bò. Góp phần giải quyết sự thiếu thức ăn cho Trâu, bò vụ Đông Xuân như hiện nay. Tình hình chăn nuôi trâu, bò của xã Quài Nưa a.
Tình hình chung huyện Tuần Giáo, Tỉnh Điện Biên Bảng 2. Diễn biến đàn trâu, bò, ngựa của Huyện Tuần Giáo Năm Trâu (con) Bò (con) Ngựa (con) 2013 19.625 610 Qua bảng chúng ta thấy: Tổng đàn trâu, bò của huyện trong 5 năm gần đây luôn có sự biến động về số lượng: Năm 2013 toàn huyện có 19.332 con đến năm 2014 toàn huyện có 20.175 con tăng 843 con. Đến năm 2015 số trâu của toàn huyện giảm xuống còn 19.775 con, giảm 400 con, nguyên nhân số trâu giảm là do có đợt rét đậm rét hại kéo dài làm cho nghé bị chết rét. Đến năm 2017 tổng đàn trâu của toàn huyện là 20.430 con, tăng 655 con.640 con trâu, tăng 210 con so với năm 2013.
Qua đó cho thấy tốc độ tăng đàn trâu của huyện là tương đối nhanh, từ năm 2013 đến năm 2018 đàn trâu của huyện tăng 1. Tổng đàn bò của toàn huyện trong 5 năm từ năm 2013 đến năm 2018 luôn tăng qua các năm. Năm 2013 tổng đàn bò của huyện có 6.014 con đến năm 2014 tổng đàn có 6.352 con, tăng 338 con. Đến năm 2015 tổng đàn bò của huyện có 6.650 con, tăng 298 con so với năm 2014.
Năm 2016 tổng đàn bò là 6.850 con, tăng 200 con so với năm 2015. Năm 2017 đàn bò tăng thêm h 7 375 con, tổng đàn bò năm 2017 là 7. Và đến năm 2018 huyện có 7.625 con, tăng 400 con so với năm 2017. Tổng đàn ngựa của huyện cũng luôn thay đổi: năm 2013cả huyện có 560 con đến năm 2014 còn 530 con, giảm 30 con.
Năm 2015 đàn ngựa của huyện tăng lên 545 con, tăng 15 con so với năm 2014. Từ năm 2014 đến năm 2018 tổng đàn ngựa tăng lên là 610 con, tăng 50 con so với năm 2013. Từ bảng diễn biến đàn trâu, bò, ngựa của huyện Tuần Giáo từ năm 2013 đến năm 2018: Tổng đàn trâu tăng 1. Tổng đàn bò tăng 1.
Tổng đàn ngựa tăng 50 con. Nhìn chung huyện Tuần Giáo có điều kiện để phát triển dàn gia súc. Hơn nữa với sự quan tâm của tỉnh, huyện cũng như phòng NN & PTNT thì đàn gia súc của huyện Tuần Giáo sẽ phát triển nhanh hơn nữa về số lượng cũng như chất lượng. Tình hình chăn nuôi trâu, bò của xã Quài Nưa - Số lượng trâu, bò của xã Bảng 2.
Số lượng trâu,bò xã Quài Nưa trong các năm Đàn trâu (con) Đàn Bò (con) Năm Tổng số Trâu Nghé Tổng số Bò Bê 2016 1530 1255 275 917 712 205 2017 1625 1135 490 927 757 170 2018 1682 1276 406 1087 795 292 2019 1650 1295 355 1032 817 215 Số lượng trâu, bò của xã Quài Nưa trong 4 năm qua và phương hướng nhiệm vụ năm 2019 là: Tổng số đàn trâu năm 2016 là 1530 con đến năm 2019 là 1650 con tăng 120 con. Trong đó số trâu năm 2016 là 1255 con đến năm 2019 là 1295 con tăng 40 con. Tổng số nghé năm 2016 là 275 con đến năm 2019 là 355 con tăng 80 con. h 8 Tổng số đàn bò năm 2016 là 917 con đến năm 2019 là 1032 con tăng 115 con.
Trong đó số bò năm 2016 là 712 con đến năm 2019 là 817 con tăng 105 con, tổng số bê năm 2016 là 205 con đến năm 2019 là 215 con tăng 10 con. Vậy qua đây chúng ta thấy rằng tổng số đàn trâu, bò của xã tăng chậm qua các năm, chính vì vậy công tác chăn nuôi cũng như thú y cần được chú trọng hơn. - Mục đích chăn nuôi trâu, bò Bảng 2. Mục đích chăn nuôi trâu, bò tại xã Quài Nưa qua các năm Loại hình Bê,nghé < 1 Tổng Cày kéo Cái sinh sản tuổi Năm Loại Đàn Số Số Số (con) Tỷ lệ Tỷ lệ Tỷ lệ lượng lượng lượng (%) (%) (%) (con) (con) (con) Trâu 1530 558 36.7 2019 Bò 1032 381 37 516 50 134 13 Từ bảng cho thấy: Mục đích chăn nuôi trâu của xã Quài Nưa không có nhiều thay đổi vẫn chủ yếu là sinh sản và cày kéo: Năm 2016 trâu để cày kéo là 36.5%, cái sinh sản là 50%, nghé < 1 tuổi 13.
Đến năm 2017 tỷ lệ cày kéo tăng lên 37.7%, h 9 cái sinh sản giảm xuống 49.3% so với năm 2016, nghé < 1 tuổi giảm xuống 13% so với năm 2016. Năm 2018 tỷ lệ trâu cày kéo là 37.5% giảm so với năm 2017, tỷ lệ cái sinh sản tăng lên 50.2% so với năm 2017, tỷ lệ nghé < 1 tuổi giảm 12.