Chương 1: Cơ sở lý luận về phòng ngừa và xử lý nợ xấu trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Chương 2: Thực trạng công tác phòng ngừa và xử lý nợ xấu tại NHNo&PTNT Tây Đô. Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị để phòng ngừa và xử lý nợ xấu tại NHNo&PTNT Tây Đô. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Nợ xấu trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Theo quan điểm quốc tế. Theo một số tiêu chí của NHTW Liên minh Châu Âu: Nợ xấu trong hoạt động kinh doanh của NHTM không chỉ có những khoản vay quá hạn thông thường không có khả năng thu hồi theo hợp đồng mà còn có các khoản nợ chưa quá hạn nhưng tiềm ẩn rủi ro dẫn đến việc có thể không thanh toán đầy đủ gốc và lãi cho ngân hàng. Ví dụ: một khách hàng thực hiện vay vốn tại nhiều ngân hàng.
Khi khoản vay ở 1 ngân hàng quá hạn trên 90 ngày và được xếp vào nhóm nợ xấu thì các khoản vay ở các ngân hàng khác tuy chưa quá hạn nợ nhưng vẫn được xếp vào nhóm nợ xấu. Theo quan điểm của Phòng thống kê – Liên hiệp quốc: Về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ. Theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 39): Về cơ bản IAS 39 chỉ chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn. Phương pháp để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai hoặc xếp hạng khoản vay (xếp hạng khách hàng).
Định nghĩa nợ xấu của Việt Nam tại Quyết định 493/2005/QĐ – Ngân hàng Nhà nước ngày 22/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước như sau: “Nợ xấu là những 5 khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn).” Cụ thể nhóm 3 trở xuống gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, đồng thời tại Điều 7 của Quyết định nói trên cũng quy định các NHTM căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp. Như vậy nợ xấu được xác định theo 2 yếu tố: đã quá hạn trên 90 ngày và khả năng trả nợ đáng lo ngại. Đây được coi là định nghĩa của VAS. Sự khác biệt trong cách phân loại nợ xấu ở Việt Nam và theo quốc tế: Về phương diện pháp lý: Theo VAS, hiện tại, chỉ có phần vốn đã đến hạn thanh toán (trong một khoản cho vay nào đó) mà không có khả năng thu hồi lại được thì các ngân hàng thương mại Việt Nam mới phân loại phần vốn thất thu này, chứ không phải là toàn bộ khoản cho vay đó, thành nợ xấu.
Nếu sử dụng IAS thì toàn bộ khoản cho vay đó sẽ bị liệt vào nợ xấu. Về thực tế: Mặc dù cả 2 phương pháp định tính và định lượng đều đã được NHNN quy định rõ trong Quyết định 493 năm 2005 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng nhưng hiện tại, hầu hết các NHTM Việt Nam mới chỉ sử dụng các phương pháp định lượng để phân loại nợ của mình mà không quan tâm đến các yếu tố định tính, ví dụ như vị thế tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nguyên nhân của vấn đề trên: Thứ nhất, để áp dụng được phương pháp định tính thì các ngân hàng thương mại phải xây dựng được hệ thống đánh giá tín nhiệm nội bộ vốn không dễ thực hiện. Thứ hai, Quyết định 493 không có các hướng dẫn rõ ràng về việc áp dụng phương pháp định tính.
Tác động của nợ xấu. Tác động tới hoạt động của NHTM. 6 Giảm hiệu quả sử dụng vốn, giảm vòng quay vốn: nợ xấu xuất hiện tức là một phần vốn kinh doanh của ngân hàng bị ứ đọng lại. Việc vốn bị ứ đọng làm cho ngân hàng mất đi cơ hội đầu tư vào các tài sản sinh lời khác.
Giảm lợi nhuận: khoản vay không thu hồi được gốc và lãi, trong khi đó ngân hàng vẫn phải chi trả chi phí huy động vốn, đồng thời bên cạnh đó chi phí dự phòng cũng gia tăng, kết quả là lợi nhuận của ngân hàng giảm sút, giảm tích lũy để đầu tư mới. Giảm khả năng thanh toán: các khoản nợ xấu phát sinh làm thay đổi kế hoạch dòng tiền vào của ngân hàng, gây khó khăn trong việc thanh toán, chi trả các khoản tiền đến hạn. Nếu nhu cầu rút tiền của khách hàng tăng đột biến hay do khách hàng không tin tưởng vào ngân hàng và tới rút tiền ồ ạt thì ngân hàng sẽ bị đẩy vào trạng thái thiếu hụt thanh khoản trầm trọng. Giảm uy tín của ngân hàng: do hoạt động kinh doanh của ngân hàng dựa chủ yếu vào tiền huy động được từ bên ngoài nên khi tỷ lệ nợ xấu cao, tức là chất lượng tín dụng của ngân hàng thấp, có ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của ngân hàng, sẽ làm cho khách hàng gửi tiền cũng như đối tác của ngân hàng không còn tin tưởng vào hiệu quả kinh doanh của ngân hàng dẫn tới việc làm giảm đáng kể các quan hệ giao dịch của ngân hàng, việc thu hút nguồn vốn cũng trở nên khó khăn hơn.
Nguy cơ phá sản: nợ xấu ở mức cao và không sớm hạn chế sẽ khiến cho các tác động trên trở nên nghiêm trọng, cuối cùng là dẫn đến sự phá sản ngân hàng. Tác động tới ngƣời vay vốn. Nợ xấu là gánh nặng buộc người vay phải giải quyết trong tình hình tài chính không tốt, bên cạnh đó nợ xấu còn làm tăng chi phí đối với người đi vay vì phải chịu lãi suất quá hạn cao hơn mức lãi suất trần. Chính những điều này đã tạo áp lực trả nợ cho các doanh nghiệp, do đó có thể dẫn đến việc ra quyết định kinh doanh sai lầm.
Người vay không trả nợ đúng hạn, mang lại nợ xấu cho ngân hàng sẽ mất uy tín và mất điểm trong hệ thống xếp hạng của các NHTM. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc tìm nguồn vốn tài trợ sau này cho người đi vay. 7 Ngoài ra, việc không thanh toán được món nợ vay của NHTM, người đi vay còn đứng trước nguy cơ bị thanh lý tài sản đem đi thế chấp, cầm cố, nghiêm trọng hơn là phá sản. Tác động đến nền kinh tế.
Nợ xấu gia tăng ảnh hưởng tới việc lưu thông tín dụng. Vốn bị ùn tắc, không đến được nơi cần vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh, gây đình đốn, lãng phí cơ sở vật chất, thất nghiệp gia tăng…, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nợ xấu tăng cao có thể dẫn đến sự phá sản của ngân hàng, từ đó sẽ tạo hiệu ứng lan truyền, suy giảm hệ thống tài chính và to lớn hơn là khủng hoảng tài chính. Tỷ lệ nợ xấu tăng cao thể hiện sự yếu kém trong hoạt động kinh doanh của NHTM, gây ra sự thiếu tin tưởng của công chúng vào NHTM, tỷ lệ huy động vốn từ dân cư thấp, dẫn đến tỷ lệ tích lũy nội bộ thấp, ngân hàng không có đủ nguồn vốn để tài trợ cho các hoạt động đầu tư dài hạn, đồng thời làm cho tăng trưởng có xu hướng lệ thuộc vào nước ngoài, làm cho nợ nước ngoài càng tăng.
Dấu hiệu nhận biết nợ xấu. Tiêu chí định lƣợng. Theo quyết định 493 – NHNN về phân loại nợ, các khoản nợ được xếp vào một trong năm nhóm sau: Nhóm 1 – nợ đủ tiêu chuẩn: Các khoản nợ có đủ khả năng thu hồi cả gốc và lãi đúng thời hạn. Nhóm 2 – nợ cần chú ý: Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày.
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại. Nhóm 3 – nợ dưới tiêu chuẩn: Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày. Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn cơ cấu lại. 8 Nhóm 4 – nợ nghi ngờ: Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày.
Các khoản nợ cư cấu lại có thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn có cấu lại. Nhóm 5 – nợ có khả năng mất vốn: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày. Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý. Các khoản nợ đã co cấu lại có thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại.
Theo tiêu chí định lượng, các khoản nợ được xếp vào nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5 được xác định là các khoản nợ xấu. Tiêu chí định tính. Là tiêu chí được các NHTM sử dụng để phân tích, đánh giá khoản nợ dựa trên cơ sở khả năng trả nợ của khách hàng một cách toàn diện. Các dấu hiệu tài chính: Các chỉ số thanh khoản, chỉ số khả năng sinh lời cho thấy dấu hiệu suy yếu.
Các vòng quay hoạt động thể hiện sự suy yếu: gia tăng bất thường hàng tồn kho làm cho vòng quay hàng tồn kho giảm, vốn có thể bị ứ đọng trong khâu dự trữ nguyên vật liệu hoặc khâu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp; vòng quay các khoản phải thu suy giảm do các khoản phải thu tăng mạnh, vốn quay vòng chậm; vòng quay phải trả giảm mạnh cho thấy dấu hiệu nợ thương mại của doanh nghiệp đang gia tăng. Cơ cấu vốn không hợp lý: tỷ trọng vay nợ ngày càng lớn. Các dấu hiệu phi tài chính: Dấu hiệu liên quan đến quan hệ của khách hàng và ngân hàng: Giảm sút mạnh số dư tiền gửi của doanh nghiệp tại ngân hàng. Công nợ gia tăng, mức độ vay thường xuyên hơn.
Chấp nhận sử dụng nguồn tài trợ lãi suất cao. 9 Khách hàng có thái độ trì hoãn, lưỡng lự khi đưa cán bộ xuống thăm cơ sở sản xuất. Trì hoãn nộp các báo cáo tài chính cho ngân hàng.