CHƯƠNG 1_________________________________________ TỎNG QUAN VÈ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐÉN TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm tín dụng cá nhân Quan hệ tín dụng ra đời và tồn tại xuất phát từ đòi hỏi khách quan của quá trình tuần hoàn vốn để giải quyết hiện tượng dư thừa, thiếu hụt vốn diễn ra thường xuyên giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Kiều (2006) thi “Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định”. Với tư cách là định chế tài chính tmng gian là “cầu nối” giữa cung và cầu vốn, ngân hàng thương mại huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và sử dụng nguồn vốn này để cấp tín dụng cho các chủ thể có nhu cầu sử dụng vốn trong nền kinh tế. Theo khoản 14, điều 4 Luật các tô chức tín dụng năm 2010 “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận đế tô chức, cả nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khẩu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
Như vậy tín dụng có thê the hiện dưới các hình thức khác nhau: tín dụng bằng tiền (cho vay), tín dụng bằng tài sản (cho thuê tài chính); tín dụng băng chữ tín (bảo lãnh). Tuy nhiên, trong hoạt động tín dụng thì cho vay là hoạt động quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất tại các NHTM. Do đó thuật ngư tín dụng và cho vay thường dùng đan xen và thay thế cho nhau. Trên cơ sở định nghĩa “Tín dụng ngân hàng” nêu trên và trong phạm vi của luận văn này, đối tượng khách hàng cá nhân bao gồm cá nhân và hộ gia đình có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cá thể, vì vậy “Tín dụng cá nhân là hình thức tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng quyển sử 6 dụng vôn của mình cho khách hàng cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng trong một thời hạn nhât định phải hoàn trả cả gôc và lãi với mục đích phục vụ đời song hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể”.
Theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015, chủ thể tham gia quan hệ dân sự chỉ bao gồm pháp nhân, cá nhân). Đê thực hiện quy định mới này của Bộ luật dân sự, Thông tư 39 (khoản 3 Điều 2) quy định khách hàng vay vốn tại tổ chức tín dụng (TCTD) là pháp nhân, cá nhân. Như vậy, các tổ chức không phải là pháp nhân (ví dụ như hộ gia đình, tô hợp tác, tô chức khác không có tư cách pháp nhân) không đủ tư cách chủ thể vay vốn tại TCTD. Trường hợp vay phục vụ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác, khách hàng vay là cá nhân có thê vay để đáp ứng nhu cầu vốn của chính cá nhân đó và nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân mà cá nhân đó là chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân.2 Đặc điếm của tín dụng cá nhân - Quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn.
Các khoản tín dụng cấp cho khách hàng cá nhân là tương đối nhỏ so với tín dụng cấp cho doanh nghiệp. Hầu hết khách hàng tìm đến ngân hàng khi đã có số vốn tương đối và chỉ bổ súng phần còn thiếu. Do số lượng khách hàng lớn, các khoản vay có giá trị nhỏ nên tín dụng cá nhân có khả năng phân tán rủi ro. - Lãi suất cho vay cá nhân thường cao hơn lãi suất cho vay khách hàng doanh nghiệp.
Chính vì điều này góp phần tăng lợi nhuận thu được từ tín dụng cá nhân. Hiện nay tại hầu hết các nước phát triển tín dụng cá nhân đã trở thành một trong những nguồn thu chủ chốt của các Ngân hàng thương mại, đóng vai trò chủ đạo trong dịch vụ ngân hàng. Loại hình tính dụng này cũng đang dần khẳng định được vai trò của mình, đem lại những lợi nhuận không nhỏ trong hoạt động tín dụng ngân hàng. - Nhu cầu được cấp tín dụng cá nhân của khách hàng chịu tác động và phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế; tăng mạnh trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng tốt, thu nhập cao, chi tiêu tăng, đầu tư cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ nhỏ lẻ sinh lời cao; 7 ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, thất nghiệp tăng, rất nhiều cá nhân, hộ gia đình hạn chế chi tiêu, vay mượn, tiêu dùng, thu hẹp sản xuất.
- Chất lượng các thông tin tài chính của các khách hàng cá nhân và hộ gia đình thường không cao và khó xác định. Trong khi đó các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng phải xuất trình báo cáo tài chính và thường có xác nhận của công ty kiêm toán, còn thông tin tài chính cá nhân rât khó kiểm chứng được. - Tư cách của khách hàng là yếu tố khó xác định, song lại rất quan trọng, quyết định sự hoàn trả của khoản vay. Cũng như bất kỳ khoản vay nào, đây là chỉ tiêu quan trọng đe ngân hàng thẩm định trước khi quyết định cho vay.
Đối với tín dụng cá nhân, thì tư cách người vay lại càng có vai trò quan trọng, nhưng tư cách người vay là nhân tố định tính nên rất khó xác định chính xác. Tư cách người vay quyết định đến việc sử dụng vốn vay đúng mục đích và là yếu tố quyết định thiện chí hoàn trả khoản vay. Do đó, tư cách của người vay càng được đánh giá cao, thi khả năng trả nợ của khách hàng càng cao, giảm được rủi ro tín dụng cho ngân hàng.3 Ưu nhu'O'c điểm của tín dung cá nhân so vói hoat đông tín dung khác ♦♦♦ Ưu điểm - ít sợ mất vốn vì đa số các khoản vay cá nhân đều có tài sản đảm bảo, đảm bảo đủ và đa số tài sản đảm bảo rất dễ thanh khoản, ít bị sụt giảm giá trị (bất động sản, xe, sổ tiết kiệm,. Trong khi đó các khoản cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp thường ít có tài sản đảm bảo, đảm bảo một phần và tài sản khó thanh khoản (xí nghiệp, hàng tồn kho, máy móc thiết bị,.
- Đồng thời, tín dụng cá nhân có khả năng phân tán rủi ro khi có sự cố tín dụng xảy ra. Cùng một sô tiên cho vay nhưng đôi với tín dụng bán buôn thì sô tiên cho vay này thường chỉ tập trung vào một hoặc hai khách hàng; trong khi với tín dụng cá nhân thì sẽ chia ra cho nhiều khách hàng khác nhau, vì thế rủi ro sẽ được phân tán bớt. 8 - Lãi suất cho vay cá nhân thường cao hơn lãi suất cho vay doanh nghiệp. Các ngân hàng thương mại muốn mời hoặc giữ chân được khách hàng doanh nghiệp tốt thường phải đưa ra mức lãi suất khá thấp điều này sẽ làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của các Ngân hàng thương mại.
Trong khi đó một khoản vay cá nhân nếu được cho vay ưu đãi thì mức lãi suất này vẫn cao hơn mức lãi suất ưu đãi áp dụng cho doanh nghiệp. Điêu này đã chứng tỏ răng tín dụng cá nhân góp phần không nhỏ trong việc tăng lợi nhuận cho ngân hàng. - Dư nợ cho vay cá nhân ôn định hơn dư nợ cho vay doanh nghiệp bởi vì các khoản vay cá nhân thường nhỏ và thường vay theo các thức trả dần gốc hàng tháng. Trong khi đó dư nợ cho vay doanh nghiệp thường trồi sụt theo mùa vụ kinh doanh của khách hàng hoặc khi một khách hàng bán buôn chuyển vay qua ngân hàng khác thì dư nợ tín dụng doanh nghiệp của ngân hàng này bị sụt giảm rất khó bù đắp lại được trong thời gian ngắn.
Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến kế hoạch tăng trưởng tín dụng mà các ngân hàng thương mại phải đạt được hàng năm. - Hồ sơ cho vay tín dụng cá nhân ít phức tạp hơn hồ sơ tín dụng doanh nghiệp, thời gian làm hồ sơ nhanh. Đe hiểu và nắm được hoạt động của doanh nghiệp cần phải tốn nhiều thời gian và đòi hỏi cán bộ tín dụng doanh nghiệp cần kinh nghiệm và kiến thức sâu, rộng hơn cán bộ tín dụng cá nhân. ❖ Nhược điểm - Đối với khoản vay cá nhân, chất lượng thông tin tài chính do khách hàng cung cấp thường không cao so với khách hàng doanh nghiệp.
Tư cách khách hàng là yếu tố quan trọng, quyết định sự hoàn trả của khoản váy, song đối với khách hàng cá nhân nó lại là yếu tố định tính, rất khó xác định. - Do đặc điểm của khách hàng cã nhân là số lượng nhiều và phân tán rộng nên để duy trì và phát triển tín dụng cá nhân sẽ tốn kém chi phí cho các công tác: s Mở rộng mạng lưới, quảng cáo, tiếp thị tạo thuận lợi trong việc tiếp cận đối tượng khách hàng cá nhân ở từng địa bàn, khu vực. 9 'G Phát triến nhân sự đầy đủ nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng, chính xác từ khâu tiếp cận hồ sơ, thẩm định đến quyết định cấp tín dụng, giải ngân và thu nợ.4 Vai trò của tín dụng cá nhân trong nền kinh tế Có thể nói rằng hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế, dù là trực tiếp hay gián tiếp cũng đều được hưởng những lợi ích do hoạt động của ngân hàng mang lại. Hoạt động tín dụng cá nhân cũng không là ngoại lệ khi có những vai trò sau đây: 1.1 Đối vói nền kinh tế - xã hội Góp phần tạo sự năng động cho các thành phần kinh tế Tín dụng cá nhân là kênh hỗ trợ vốn để dân chúng trang trải các chi phí phát sinh trong cuộc sống từ thỏa mãn nhu cầu thiết yếu cho đến nhu cầu xa xỉ với chi phí đắt đỏ, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sổng.
Để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng, buộc các thành phần kinh tế phải đẩy mạnh sản xuất, do đó tạo nhiều công ăn việc làm, tạo ra những khác biệt tích cực giúp tăng khả năng cạnh tranh trước các đối thủ trong và ngoài nước trong thời kỳ hội nhập. Góp phần tạo sự ôn định về mặt xã hội Là một phần của tín dụng nói chung, tín dụng cá nhân cũng có vai trò tích cực đối với xã hội. Tín dụng cá nhân góp phần khai thác triệt .để các nguồn vốn nhàn rôi trong xã hội rôi lưu thông các nguôn vôn này một cách trôi chảy và hiệu quả, từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao.