MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Kinh tế hợp tác nói chung và hợp tác xã nói riêng là những hình thức tổ chức kinh tế-xã hội ra đời một cách khách quan trong quá trình phát triển của xã hội hiện đại. Từ những năm cuối của thế kỷ XVIII, khi các nước Tây Âu, tiêu biểu là nước Anh và Pháp chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh và tập trung mọi nỗ lực để thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp, tư tưởng về HTX đã được khởi nguồn và một số mô hình thí điểm đầu tiên đã xuất hiện ở khu vực này. Về sau, song hành với quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường, hình thức HTX tiếp tục được nhân rộng, trở thành một trào lưu quốc tế và cho đến nay đã có lịch sử trên 100 năm.
Theo đánh giá mới đây (năm 2003) của Liên hợp quốc, ngày nay “Hợp tác xã là trào lưu có tổ chức lớn nhất của xã hội văn minh”. Ở Việt Nam, trong thời kỳ áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các HTXNN có vai trò không thể phủ nhận đối với đời sống kinh tế-xã hội và đã từng là một trong những điểm tựa quan trọng của cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Từ năm 1986, khi Việt Nam thực hiện chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường thì lý luận, đường lối, chính sách liên quan đến HTX nói chung và HTXNN nói riêng cũng được đổi mới. Mô hình HTXNN kiểu kế hoạch hoá tập trung không còn thích hợp và được chuyển sang những hình thức mới.
HTX được xem là bộ phận quan trọng nhất của thành phần kinh tế tập thể, trong đó HTXNN có “sứ mệnh” giúp các hộ nông dân cá thể sản xuất nhỏ lẻ có thể hợp tác với nhau để tồn tại và phát triển được trong cơ chế kinh tế thị trường. Ngoài “sứ mệnh” kinh tế, các HTXNN còn có vai trò chính trị, xã hội theo hướng tạo mọi cơ hội bình đẳng trong kinh doanh cho những người có ít vốn, đồng thời góp phần xoá đói, giảm nghèo ở nông thôn. Nhận thức được vai trò quan trọng của HTX nói chung và HTXNN nói riêng, từ trước đến nay Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc phát triển HTX. Khi mô hình HTX kiểu cũ (trước khi có Luật HTX năm 1996) lâm vào tình trạng trì trệ, không còn phù hợp với xu hướng đổi mới của nền kinh tế, Đảng và Nhà nước đã có 1 chủ trương đổi mới HTX bằng việc ban hành Luật HTX năm 1996, tạo cơ sở pháp lý cho sự ra đời của mô hình HTX kiểu mới, một mô hình phù hợp với sự đổi mới, phát triển của đất nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, trên thực tế, các HTXNN kiểu mới vấp phải rất nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp. Tổng kết 5 năm thực hiện chuyển đổi HTX theo Luật HTX năm 1996, Hội nghị Trung ương 5 khóa IX (3/2002) đã ra Nghị quyết về: Tiếp tục đổi mới phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, trong đó nhấn mạnh Nhà nước phải tạo điều kiện thuận lợi cho HTXNN phát triển. Trên cơ sở Nghị quyết của Đảng và thực tiễn hoạt động của HTX kiểu mới, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI (ngày 26/11/2003) đã thông qua Luật HTX mới (Luật HTX năm 2003 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2004). Từ khi triển khai Luật HTX năm 1996 và năm 2003 đến nay, các HTXNN đã có bước phát triển mới, đáp ứng được một phần nhu cầu của nông dân, của hộ sản xuất kinh doanh nông nghiệp, đóng góp quan trọng vào quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi ở nông thôn, thúc đẩy sản xuất nông sản hàng hóa phát triển và góp phần vào quá trình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Tuy nhiên, HTXNN ở nước ta cũng còn tồn tại một số yếu kém như: một số HTXNN chuyển đổi còn mang tính hình thức, năng lực nội tại của HTXNN còn hạn chế, các HTXNN thụ động và không nhanh nhạy nắm bắt tín hiệu và cơ hội của thị trường, số HTXNN làm ăn có hiệu quả còn ít, các nội dung hoạt động nghèo nàn, lợi ích đem lại cho xã viên chưa nhiều vậy. HTXNN phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và vai trò kinh tế-xã hội vốn có của nó. Những hạn chế yếu kém của HTXNN có nhiều nguyên nhân, gồm cả các nguyên nhân xuất phát từ chính bản thân HTXNN và từ sự quản lý của nhà nước. Để HTXNN đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của kinh tế hộ nông dân và phát triển ổn định, bền vững trong nền kinh tế thị trường hội nhập kinh tế quốc tế, cần phải khắc phục những nguyên nhân và tồn tại yếu kém của HTXNN.
Với những lý do nêu trên, “Hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam: Thực trạng, vấn đề và giải pháp” được tác giả chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị. Tình hình nghiên cứu: Trong hơn 10 năm đổi mới và phát triển HTXNN theo Luật HTX ở nước ta, vấn đề HTXNN là chủ đề được nhiều cơ quan khoa học, nhiều nhà nghiên cứu xem xét dưới nhiều góc độ, phạm vi và mức độ khác nhau. Có thể nêu một số công trình tiêu biểu như: - Lương Xuân Quỳ, Nguyễn Thế Nhã, Đổi mới tổ chức và quản lý HTX trong nông nghiệp nông thôn, Nxb Nông nghiệp, 1999. Các tác giả đã khái quát toàn bộ quá trình phát triển của các hình thức tổ chức, quản lý các HTX trong nông nghiệp nông thôn Việt Nam từ trước khi chuyển sang kinh tế thị trường và phân tích thực trạng mô hình tổ chức quản lý các HTX ở một số địa phương tiêu biểu.
Trên cơ sở đó phác họa một số phương hướng và giải pháp chủ yếu để xây dựng mô hình tổ chức có hiệu quả cho các loại hình HTX.TS Nguyễn Kế Tuấn, Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam, con đường và bước đi, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006. Tác giả đề cập đến vai trò của các HTX trong quá trình CNH-HĐH ở khu vực kinh tế nông nghiệp nông thôn.TS Nguyễn Văn Bích, TS.Chu Tiến Quang, GS.TS Lưu Văn Sùng, Kinh tế hợp tác và HTX ở Việt Nam, thực trạng và định hướng phát triển, Nxb Nông nghiệp, 2001. Các tác giả đã hệ thống hóa quá trình hình thành, phát triển các loại hình kinh tế hợp tác, HTX trên thế giới và ở Việt Nam với những thành công và tồn tại, từ đó nêu lên định hướng phát triển phù hợp đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước.TS Lâm Quang Huyên, Kinh tế nông hộ và kinh tế hợp tác trong nông nghiệp Việt Nam, Nxb Trẻ, TPHCM, 2004, phân tích tương đối sâu và khá hệ thống về mối quan hệ giữa kinh tế nông hộ và kinh tế hợp tác. Chử Văn Lâm, Sở hữu tập thể và kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 12, 2005.
Tác giả tập trung nghiên cứu về quan hệ sở hữu trong các loại hình kinh tế hợp tác và HTX của thành phần kinh tế tập thể. 3 - Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, Kinh nghiệm hoạt động của một số HTX sau sáu năm thực hiện Luật HTX ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2003. Nội dung đề cập đến một số HTX đổi mới theo Luật HTX năm 1996 làm ăn có hiệu quả. Ngoài ra, còn có các diễn đàn thảo luận về đổi mới, phát triển các HTXNN trên các trang web.
Nhìn chung, các công trình và tài liệu nói trên đã nghiên cứu nhiều khía cạnh của HTXNN, trong đó, các công trình nghiên cứu trước năm 2001 chủ yếu đi vào làm rõ những yếu kém của mô hình HTXNN kiểu cũ, luận giải sự cần thiết phải đổi mới HTXNN theo Luật HTX năm 1996. Các công trình nghiên cứu sau năm 2001, nghiêng về nghiên cứu sự phát triển của kinh tế tập thể theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX hoặc nghiên cứu về HTXNN hoạt động theo luật HTX nhưng chỉ trong phạm vi một tỉnh, một huyện hoạc một vùng địa lý. Cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện HTXNN trên cả nước để đưa ra một mô hình tổng thể, khái quát nhưng đầy đủ, logic và khoa học về mô hình hoạt động HTXNN theo đúng nghĩa là một “HTX thực sự”. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: Mục đích của luận văn là vận dụng lý luận HTXNN để khảo sát, đánh giá hoạt động của HTXNN kiểu mới trên cả nước từ năm 1996 đến nay và đề xuất một số phương hướng, giải pháp thúc đẩy phát triển HTXNN trong thời gian tới.
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ: - Làm rõ những nguyên tắc và bản chất của loại hình kinh tế HTX nói chung và HTXNN nói riêng. - Luận chứng về sự cần thiết khách quan phải phát triển HTXNN ở Việt Nam. - Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển HTXNN ở Việt Nam từ khi có Luật HTX năm 1996 đến nay. - Đề xuất định hướng và các giải pháp phát triển HTXNN trong thời gian tới.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu nghiên cứu: - Đối tượng nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu về các HTXNN ở Việt Nam. 4 - Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng các HTXNN ở Việt Nam từ năm 1996 đến nay. Phƣơng pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, thống kê và xử lý các tài liệu tham khảo có liên quan đến nội dung nghiên cứu. Luận kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học có nội dung gần với đề tài.
Dự kiến đóng góp của luận văn: - Phân tích cơ sở lý thuyết của mô hình HTXNN hoạt động theo Luật HTX và từ thực tiễn phong trào HTXNN ở các nước trên thế giới để xây dựng mô hình tổng quát về hoạt động của HTXNN và các nhân tố có liên quan đến HTXNN một cách chính xác, logic và dễ hiểu nhất. - Đánh giá những thành công và bất cập tồn tại trong quá trình phát triển HTXNN theo Luật HTX từ năm 1996 đến. - Đưa ra định hướng và các giải pháp góp phần thúc đẩy HTXNN phát triển trong thời gian tới.