phần mở đầu, kết luận, khóa luận bao gồm những nội dung sau: Ch ng : Những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Ch ng 2: Thực trạng hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT Chi nhánh số 2, thành phố Thanh Hóa. Ch ng : iải pháp nhằm phát triển hoạt động tín dụng NHNo&PTNT Chi nhánh số 2, thành phố Thanh Hóa. SV: Thiều Việt Hà MSV: 1064030108 3 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Trịnh Thị Thu Huyền CHƯƠNG NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về Ngân hàng th ng ại 1.
Khái niệm và đặc điểm của Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa, ngược lại kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao của nó- kinh tế thị trường- thì ngân hàng thương mại cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được. Khái niệm ngân hàng thương mại: Cho tới thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM. - Ở Mỹ, NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
- Đạo luật ngân hàng của Pháp(1941) cũng đã định nghĩa: “ NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. - Ở Việt Nam, định nghĩa NHTM: NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ triết khấu và làm phương tiện thanh toán. Từ những nhận định trên có thể thấy: NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ SV: Thiều Việt Hà MSV: 1064030108 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Trịnh Thị Thu Huyền thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.
Vai trò của ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế Từ vai trò ngày càng quan trọng của dịch vụ ngân hàng, ngân hàng đã được coi là bà đỡ của nền kinh tế. Hệ thống ngân hàng đang không ngừng cải thiện và áp dụng công nghệ hiện đại đóng góp vai trò to lớn đối với sự tăng trưởng kinh tế. - Huy động vốn của NHTM góp phần tăng tiết kiệm của nền kinh tế. Sự phát triển của các sản phẩm tiết kiệm linh hoạt mà các NHTM đã và đang triển khai đóng góp một phần không nhỏ trong việc tăng tiết kiệm của dân cư.
- Các hoạt động tài trợ của ngân hàng giúp cho các doanh nghiệp duy trì ổn định sản xuất, đầu tư công nghệ, thay đổi máy móc, nhờ đó nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế Ngoài ra, hoạt động cho vay tiêu dùng góp phần kích thích cầu tiêu dùng, qua đó góp phần tăng trưởng kinh tế. trong thời gian qua, hoạt động tín dụng của các NHTM đã được mở rộng tới tất cả các thành phần kinh tế, dưới hình thức cho vay ngày một đa dạng: cho vay vốn lưu động, cho vay vốn cố định, tín dụng thuê mua,… đặc biệt, việc chuyển hướng mở rộng cho vay tiêu dùng thực sự là một hướng kích cầu có hiệu quả. - Sự đóng góp của hoạt động các NHTM đến tổng thu nhập kinh tế quốc dân. Ngoài việc tăng trưởng mạnh các hoạt động huy động và cho vay, các hoạt động có thu khác của NHTM cũng ngày càng được quan tâm và phát triển.
đây là xu hướng cảu các NHTM ở các nước phát triển. đặc biệt khi các hoạt động cho vay và huy động vốn rất nhạy cảm với tình hình kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế, các hoạt động khác chính là “phao cứu sinh” cho các NHTM. SV: Thiều Việt Hà MSV: 1064030108 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Trịnh Thị Thu Huyền - Tác động của hệ thống thanh toán qua ngân hàng đến tăng trưởng kinh tế. Hoạt động thanh toán đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo các hoạt động kinh tế diễn ra một cách liên tục.
sự phát triển của dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt đã góp phần giảm tỉ lệ thanh toán bằng tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán. - Hệ thống HNTM đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN, từ đó tác động đến nền kinh tế. Nhiều biện pháp mà nhà nước áp dụng chỉ có thể phát huy hiệu quả thông qua hoạt động của các NHTM. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của các NHTM trong chính sách kích thích tăng trưởng kinh tế.
Những hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại 1. Hoạt động huy động vốn Bản thân thuật ngữ “ huy động vốn” đã nêu lên tương đối công việc trong công tác này. Trong nền kinh tế luôn tồn tại những người thừa vốn và những người thiếu vốn, có thể nói NHTM đóng vai trò điều hòa mâu thuẫn này bằng việc sử dụng các công cụ, các nghiệp vụ của mình để huy động các nguồn vốn trong xã hội. thực chất, nghiệp vụ huy động vốn là các hoạt động thu hút nguồn vốn nhàn rỗi của các cá nhân, tổ chức kinh tế, xã hội dưới dạng tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, phát hành các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác, tạo nên một nguồn tài chính được ngân hàng sử dụng để kinh doanh lời và trả lại một phần lợi nhuận này cho người gửi thông qua công cụ lãi suất.
- Tài khoản tiết kiệm: đối tượng thường là những người có thu nhập thấp muốn tiết kiệm tiền lâu dài hoặc cũng có thể những người có thu nhập cao muốn dành riêng một khoản tiền nào đó để chi dùng cho tương lai. Đối với loại tiền gửi này, các NHTM có thể sử dụng được lâu dài nhưng lượng huy động được là không đáng kể. SV: Thiều Việt Hà MSV: 1064030108 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Trịnh Thị Thu Huyền - Tiền gửi không kì hạn: là khoản tiền gửi vào ngân hàng không có sự thỏa thuận về thời gian rút tiền, khách hàng có thể gửi vào hoặc rút ra bất cứ khi nào, rút ra một phần hay toàn phần theo yêu cầu và ngân hàng phải đáp ứng toàn bộ yêu cầu đó. Với các tài khoản này, mục đích chính của người gửi là để thanh toán, chi trả - Tiền gửi có kì hạn: là tiền gửi vào ngân hàng trên cơ sở thỏa thuận giữa khách hàng và ngân hàng về thời gian rút tiền.
hiện tại, các NHTM áp dụng các loại tiền gửi có kì hạn 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 1 năm, 2 năm… với mỗi kì hạn khác nhau, ngân hàng áp dụng một mức lãi suất khác nhau. Thông thường thì thời hạn càng dài, lãi suất càng cao. - Vay từ ngân hàng trung ương: NHTW được coi là ngân hàng của ngân hàng, là người cho vay sau cùng của các NHTM - Vay trên thị trường liên ngân hàng: ở bất kì thời điểm nào cũng có những NHTM có vốn dự trữ dư thừa tại NHNN. Khoản dự trữ này không sinh lời nên họ sẵn sàng nhượng lại cho ngân hàng khác sử dụng trong một thời gian nhất định.
Trên thực tế, các NHTM sử dụng rất nhiều vốn vay trên thị trường liên ngân hàng để cho doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế vay - Vay trên thị trường: phát hành chứng chỉ tiền gửi; phát hành trái phiếu; phát hành kì phiếu có mục đích 1. Hoạt động tín dụng Tín dụng được xem là vai trò quan trọng nhất của NHTM. Khi thực hiện vai trò tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay… 1.
Hoạt động thanh toán Ở đây, NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền SV: Thiều Việt Hà MSV: 1064030108 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Trịnh Thị Thu Huyền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vài tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay ở xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian,lại đảm bảo thanh toán an toàn.
Hoạt động này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. 2 H ạt ộng tín ụng ủa Ngân hàng th ng ại 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng xuất phát từ gốc từ Latinh: redittum - tức là tin tưởng, tín nhiệm. Tín dụng được diễn giải theo ngôn ngữ Việt Nam là sự vay mượn.
Quan hệ tín dụng được hình thành từ việc mua - bán chịu hàng hóa dựa trên “uy tín”, sự tin tưởng lẫn nhau. Nhờ vào đó mà các doanh nghiệp có thể đáp ứng, bổ sung nguồn vốn thiếu hụt, đồng thời có thể tiêu thụ được hàng hóa. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, không phải lúc nào các chủ thể cũng được đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu của mình: về quy mô nguồn vốn, về thời hạn tín dụng, về mức lợi tức.