lời mở đầu, kết luận và các danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được trình bày theo 3 chương: Chƣơng 1: Tổng quan về phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Á Châu Chƣơng 3: Giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Á Châu 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ THẺ NGÂN HÀNG 1. Sự ra đời của thẻ ngân hàng Do sự cạnh tranh quyết liệt giữa các ngân hàng trong việc mở rộng thị trường, ngoài các hoạt động truyền thống như vay- cho vay, các ngân hàng còn thực hiện các hoạt động thanh toán nhằm gia tăng sự thu hút khách hàng. Hơn nữa chiến lược hiện đại hóa công nghệ và nghiệp vụ thanh toán để theo kịp các thành tựu của ngành tin học- điện tử- viễn thông, các ngân hàng đã thúc đẩy sự ra đời của thẻ thanh toán ngân hàng.
Thẻ ngân hàng lại ra đời một cách ngẫu nhiên vào năm 1940 do ông Frank Mc Namara, một doanh nhân người Mỹ sáng chế. Có lần khi dùng bữa tối tại một nhà hàng, ông bỗng nhiên phát hiện ra mình không mang theo tiền mặt. Ông phải gọi điện cho vợ mình nhanh chóng mang tiền đến thanh toán. Tình trạng khó xử này đã khiến ông mày mò chế tạo một phương tiện chi trả tiền mặt trong những trường hợp tương tự như thế.
Đây là lần đầu tiên Mc Namara cho ra đời loại thẻ mang tên “Dinners Club”. Năm 1950, chiếc thẻ nhựa đầu tiên được phát hành, những người có thẻ Dinners Club này có thể ghi nợ khi ăn tại 27 nhà hàng tại thành phố New York và phải chịu một khoản lệ phí hàng năm là 5 USD. Những tiện ích của chiếc thẻ ngay lập tức gây sự chú ý và đã chinh phục một lượng đông đảo khách hàng do họ có thể mua hàng trước mà không cần trả tiền ngay. Còn đối với nhà bán lẻ, tuy phải chịu mức chiết khấu là 5% nhưng doanh thu của họ tăng lên đáng kể do lượng khách hàng tiêu dùng tăng lên rất nhanh.
Đến năm 1951, hơn 1 triệu đôla được ghi nợ, doanh số phát hành thẻ ngày càng tăng và công ty phát hành thẻ Dinners Club bắt đầu có lãi. Một cuộc cách mạng về thẻ diễn ra ngay sau đó đã nhanh chóng mang thẻ trở thành một phương tiện thanh toán mang tính toàn cầu. Tiếp nối thành công của thẻ Dinners Club, hàng loạt công ty thẻ như Trip Change, Golden Key, Esquire Club… ra đời. Phần lớn các thẻ này trước hết được phát hành nhằm phục vụ giới doanh nhân, nhưng sau đó các ngân hàng nhận thấy rằng giới bình 5 dân mới là đối tượng sử dụng thẻ trong tương lai.
Với sự thay đổi chiến lược khách hàng của mình, các ngân hàng nhanh chóng thâm nhập vào thị trường thẻ và coi đây là thị trường đầy tiềm năng. Ngân hàng Mỹ quốc là nơi đầu tiên phát hành thẻ Bank Americard mà nay là Visa Card. Năm 1966, Bank Americard bắt đầu liên kết với các liên bang khác để phát triển mạng lưới thẻ này. Trong khi thẻ Bank Americard đang thành công rực rỡ thì các tổ chức phát hành thẻ khác cũng tìm kiếm khả năng cạnh tranh với loại thẻ này.
Năm 1966, một hiệp hội ngân hàng mới, trong đó gồm 14 ngân hàng của Mỹ đã xây dựng một hệ thống giao dịch tự động nối mạng trong thanh toán thẻ tín dụng. Ngay sau đó, có bốn ngân hàng bang Califonia có hiệp hội thẻ mang tên Wessten States Bank Card Association đã liên kết với hiệp hội ngân hàng Interbank phát hành thẻ Master Charge mà ngày nay gọi là Master Card. Năm 1979, tổ chức thẻ quốc tế Master Card được thành lập. Bên cạnh Visa Card và Master Card, thẻ American Express (Amex) và JCB của Nhật Bản cũng vươn lên mạnh mẽ, doanh thu của các loại thẻ này cũng lên tới hàng trăm tỷ USD và hàng chục triệu thẻ lưu hành.Với sự phát triển của thẻ thanh toán, các hiệp hội cạnh tranh nhau quyết liệt nhằm dành phần lớn thị trường cho mình.
Sự cạnh tranh này tạo điều kiện cho thẻ thanh toán có cơ hội phát triển nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu. Phân loại thẻ Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ Theo tính chất thanh toán của thẻ thì thẻ được phân làm 3 loại: Thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thẻ rút tiền mặt. Thẻ tín dụng (Credit Card): Đây là loại thẻ do ngân hàng phát hành, theo đó người chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng tuần hoàn để mua sắm hàng hoá, dịch vụ tại các cơ sở kinh doanh, cửa hàng, siêu thị, khách sạn, sân bay, khu vui chơi giải trí,. chấp nhận loại thẻ đó.
Ngân hàng phát hành sẽ quy định một hạn mức tín dụng cụ thể, căn cứ theo khả năng tài chính hay tài sản thế chấp của chủ thẻ. Chủ thẻ chỉ được chi tiêu trong phạm vi hạn mức tín dụng. Tính chất tín dụng của thẻ được thể hiện ở chỗ chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng mà không phải trả tiền ngay, chỉ phải thanh toán sau một kì hạn nhất định, chủ thẻ cũng sẽ không phải trả lãi nếu thanh toán đúng hạn. 6 Thẻ ghi nợ (Debit Card): Là loại thẻ kết nối với tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản tiền thanh toán của chủ thẻ.
Khi mua hàng hoá, dịch vụ giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay vào tài khoản của chủ thẻ thông qua các thiết bị điện tử đặt tại các cơ sở chấp nhận thẻ đó và đồng thời sẽ ghi có vào tài khoản của các đơn vị chấp nhận thẻ đó. Thẻ rút tiền mặt (Cash Card): Là loại thẻ dùng để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc ở ngân hàng và các dịch vụ khác do máy ATM cung cấp (ví dụ: kiểm tra số dư, chuyển khoản, chi trả các khoản vay. Thẻ trả trước (Prepaid Card): Là loại thẻ khách hàng có thể sử dụng mà không cần có tài khoản ngân hàng, số tiền khách hàng có thể dùng để chi tiêu là số tiền có trong thẻ do loại thẻ này không liên kết với tài khoản tiền gửi hay tài khoản thanh toán của chủ thẻ. Phân loại theo đặc tính kĩ thuật Thẻ băng từ: Được sản xuất dựa trên kĩ thuật từ tính với một băng từ chứa hai rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ.
Thẻ này được sử dụng phổ biến trong vòng 20 năm nay nhưng hiện nay dễ bị lợi dụng vì thông tin trên thẻ không tự mã hoá, thẻ mang thông tin cố định, khu vực chứa thông tin hẹp, không áp dụng các kĩ thuật mã đảm bảo an toàn. Thẻ thông minh: Là thế hệ thẻ mới nhất hiện nay, được chế tạo dựa trên kĩ thuật vi xử lí tin học nhờ gắn vào thẻ một “Chip” điện tử có cấu trúc như một máy tính hoàn hảo, dung lượng nhớ của “Chip” điện tử khác nhau. Do có con chip gắn trên thẻ nên ngoài khả năng lưu trữ số liệu còn có thêm một tính năng quan trọng là xử lí dữ liệu. Thẻ chip còn có khả năng đóng vai trò một tấm thẻ đa chức năng: vừa đóng vai trò thẻ thanh toán, vừa đóng vai trò thẻ nhận dạng, thẻ điện thoại,.
Phân loại hạn mức tín dụng Thẻ vàng (Gold Card): Là loại thẻ phục vụ cho các đối tượng khách hàng có uy tín đối với ngân hàng, có khả năng tài chính vững mạnh và có nhu cầu chi tiêu lớn. Thẻ chuẩn (Standard Card): Đây là loại thẻ được sử dụng phổ biến thích hợp với nhiều đối tượng khách hàng có thu nhập khác nhau. Loại thẻ này khác căn bản so với thẻ vàng là hạn mức tín dụng tối thiểu thấp hơn, tuỳ thuộc vào ngân hàng phát hành quy định. 7 Phân loại theo phạm vi lãnh thổ Thẻ nội địa: Là loại thẻ được giới hạn trong phạm vi sử dụng một quốc gia, do đó đồng tiền giao dịch phải là đồng bản tệ của nước đó.
Thẻ quốc tế: Là loại thẻ được chấp nhận trên phạm vi toàn cầu, sử dụng đồng ngoại tệ mạnh để thanh toán. Thẻ được hỗ trợ và quản lý trên toàn thế giới bởi các tổ chức tài chính lớn, uy tín hoạt động trong một hệ thống liên hoàn, đồng bộ. Phân loại theo chủ thể phát hành Thẻ do ngân hàng phát hành: là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp cho khách hàng sử dụng linh hoạt tài khoản của mình tại ngân hàng hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng. Đây là loại thẻ được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay trên thế giới.
Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: Đó là loại thẻ du lịch giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành như thẻ Diner Club, Amex. Vai trò của dịch vụ thẻ Ngân hàng trong nền kinh tế hiện đại 1. Đối với ngân hàng phát hành − Ngân hàng phát hành có các khoản thu lệ phí: các khoản phí thường niên, phí chuyển tiền đối với chủ thẻ để hưởng dịch vụ thanh toán mà ngân hàng cung cấp, chủ thẻ đã tạo nên một nguồn thu đều đặn cho ngân hàng phát hành. − Ngân hàng có thêm một nguồn huy động từ tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng.
Để có thể sở hữu thẻ, thông thường chủ thẻ phải có tài sản thế chấp hoặc có số dư tài khoản ở mức nhất định theo quy định của ngân hàng. Điều này đã làm số dư tiền gửi của ngân hàng tăng một cách đáng kể. − Ngân hàng phát hành tiết kiệm được chi phí mở rộng địa bàn hoạt động. Việc đặt các ATM hay liên hệ với các cơ sở chấp nhận thẻ cũng góp phần mở rộng địa bàn hoạt động của ngân hàng, điều này rất có ích ở những nơi mà việc mở chi nhánh là tốn kém.
Đối với chủ thẻ − Khi sử dụng thẻ, chủ thẻ đã được ngân hàng cung cấp một dịch vụ thanh toán có độ bảo mật cao, độ tiện dụng lớn. Với trình độ kỹ thuật ngày càng cao, việc làm thẻ giả trở nên khó khăn hơn, điều này đồng nghĩa với việc các chủ thẻ có thể yên tâm hơn vể tiền của mình. Thêm nữa, khi những cơ sở thanh toán thẻ ngày càng nhiều, ATM 8 ngày càng trở nên phổ biến, thẻ sẽ là một công cụ thanh toán lí tưởng cho các chủ thẻ. − Với chiếc thẻ được cấp tín dụng trước cho khách hàng để thanh toán hàng hóa dịch vụ, khách hàng đã được ngân hàng giúp mở rộng khả năng thanh toán của mình.