Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý và phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng q u ản lý v à phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Thái Nguyên. Chương 4: Một số giải pháp quản lý và phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam- chi nhánh Thái Nguyên. c 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về thẻ và dịch vụ thẻ ngân hàng 1.
Lịch sử hình thành và phát triển của thẻ Lịch sử hình thành phương thức thanh toán bằng thẻ nói chung được ghi nhận vào năm 1914, khi đó một công ty của Mỹ là Western Union đã cung cấp một dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của khách hàng. Theo đó công ty này phát hành một tấm thẻ bằng kim loại với một số thông tin được in nổi lên trên để đảm bảo hai chức năng cơ bản là: nhận dạng được khách hàng và có thể lưu giữ lại các thông tin được in nổi trên tấm kim loại. Thấy được sự tiện lợi của thẻ Western Union, công ty General Petroleum của Mỹ cũng đã phát hành thẻ xăng dầu đầu tiên vào năm 1924, cho phép khách hàng có thể mua xăng dầu tại các cửa hàng của công ty trên toàn nước Mỹ. Như vậy có thể nói những tấm thẻ kim loại là nền tảng cho việc ra đời những tấm thẻ nhựa sau này.
Tấm thẻ nhựa đầu tiên được phát hành vào năm 1950 bởi công ty Dinners Club. Khi đó, ông Frank McNamara, người sáng lập ra công ty Dinners Club, đã hết sức bối rối sau khi tham dự một buổi tiệc tại một nhà hàng mà quên mang theo ví tiền. Ông đã nảy ra ý định phát hành những tấm thẻ nhựa để khách hàng có thể thanh toán sau. Đến năm 1958, công ty American Express đã phát hành các thẻ nhựa, trong đó tập trung vào các lĩnh vực du lịch và giải trí.
Sau đó, vào cuối những năm 1960, một số ngân hàng của Mỹ đã liên kết lại với nhau để phát hành thẻ của ngân hàng mình, đây là cơ sở để hình thành hai loại thẻ sử dụng phổ biến nhất trên thế giới ngày nay: thẻ Visa và Master. c 6 Ngày nay, có thể nói bốn loại thẻ nhựa nêu trên được khách hàng ưa chuộng và sử dụng rộng rãi trên thế giới. Các loại thẻ này cũng đã du nhập vào Việt Nam vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước. Song, cho đến nay tiền mặt vẫn là phương tiện thanh toán phổ biến trong dân.
Khái niệm và phân loại thẻ Ngân hàng 1.1 Khái niệm Từ các góc độ xem xét, nghiên cứu khác nhau, người ta đưa ra các khái niệm về thẻ khác nhau. Nhưng tựu chung lại, bản chất của thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán, chi trả mà người sở hữu thẻ có thể dùng để thỏa mãn nhu cầu về tiêu dùng của mình, kể cả rút tiền mặt hoặc sử dụng nó làm công cụ thực hiện các dịch vụ tự động do ngân hàng hoặc các tổ chức khác cung cấp. Thẻ không hoàn toàn là tiền tệ, nó là biểu tượng về sự cam kết của ngân hàng hoặc tổ chức phát hành bảo đảm thanh toán những khoản tiền do chủ thẻ sử dụng bằng tiền của ngân hàng cho chủ thẻ vay hoặc tiền của chính chủ thẻ đã gửi tại ngân hàng. Bản chất của thẻ có thể hiểu qua các khái niệm về thẻ như sau: - Theo khái niệm tổng quát thì: Thẻ là một danh từ chỉ một vật nhỏ, nhọn, chứa đựng các thông tin nhằm sử dụng vào một số mục đích nào đó.
Do đó, thẻ sẽ được gắn với những tính chất, đặc điểm, nội dung riêng biệt để thành một loại cụ thể như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thẻ visa,… - Xét về giác độ phát hành thì : Thẻ là một phương tiện do ngân hàng, các định chế tài chính hoặc các công ty phát hành dùng để giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt. - Theo quan điểm của NHNN Việt Nam thể hiện qua quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng ban hành theoQuyết định 371/1999/QD-NHNN ngày 19/10/1999 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và xét theo mục đích sử dụng thì: Thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh c 7 toán tiền hàng hóa, dịch vụ không dùng tiền mặt hoặc có thể được rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc các ngân hàng đại lý; hoặc: Thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán chi phí mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ tại các điểm chấp nhận thẻ. Trên thực tế, cùng với sự phát triển của công nghệ, chức năng và mục đích sử dụng của các loại thẻ ngày càng đa dạng, phong phú. Với một tấm thẻ, khách hàng không chỉ dùng để thanh toán, để rút tiền mà còn được sử dụng rất nhiều dịch vụ ngân hàng đi kèm như sao kê tài khoản ngân hàng, chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng khác, giao dịch mua bán qua internet,…Như vậy, theo quan điểm của luận văn này thì chúng ta có thể hiểu khái niệm của Thẻ là công cụ để chủ thẻ kết nối với các chủ thể khác tham gia hệ thống thanh toán thẻ phục vụ quá trình lưu chuyển hàng hóa, tiền tệ được thỏa thuận trước nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình.
Vai trò của thẻ ngân hàng với phát triển kinh tế - xã hội: - Giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông: thẻ là một phương tiện thanh toán phí tiền mặt, thanh toán dùng thẻ chiếm tỷ trọng lớn ở các nước phát triển. - Thực hiện chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước: trong thanh toán bằng thẻ, các giao dịch đều dễ dàng kiểm soát, phục vụ tốt cho công tác quản lý thuế, kiểm soát chống rửa tiền, kiểm soát nguồn tiền. - Thực hiện biện pháp kích cầu: Nhà nước có thể kích cầu tiêu dùng thông qua dịch vụ thẻ. - Cải thiện môi trường văn minh thương mại, thu hút đầu tư và du lịch thông qua khuyến khích thanh toán bằng thẻ, giảm bớt rủi ro do dùng tiền mặt (mang/cất giữ).2 Đặc điểm cấu tạo Thẻ dù do bất cứ tổ chức nào phát hành đều được làm bằng plastic, có 3 lớp ép sát, lõi thẻ được làm bằng nhựa trắng cứng nằm giữa hai lớp tráng mỏng.
Thẻ có kích thước chung theo tiêu chuẩn quốc tế là 5. Trên thẻ phải có đủ các thông tin sau: Mặt trước của thẻ phải ghi: Loại thẻ (Tên và biểu tượng của ngân hàng phát hành thẻ); Số thẻ được in nổi; Tên người sử dụng được in nổi; Ngày bắt đầu có hiệu lực và ngày hết hiệu lực; Biểu tượng của tổ chức thẻ; Các đặc tính để tăng tính an toàn của thẻ, đề phòng giả mạo. Mặt sau của thẻ có băng từ ghi lại những thông tin sau: Số thẻ, tên chủ thẻ, thời hạn hiêu lực, bảng lí lịch ngân hàng, mã số bí mật, ngày giao dịch cuối cùng, mức rút tối đa và số dư. Ngoài ra thẻ còn có thể có thêm một số yếu tố khác theo quy định của các tổ chức thẻ quốc tế hoặc hiệp hội phát hành thẻ…Các ngân hàng khi phát hành thẻ thường sử dụng những thiết bị mang tính công nghệ cao để đảm bảo tính an toàn cho thẻ.3 Phân loại thẻ Có rất nhiều cách phân loại thẻ dựa trên các tiêu chí khác nhau.
Tuy nhiên,trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, chúng ta xẽ xem xét một số cách phân loại thường gặp như sau: Theo tính chất thanh toán thẻ: - Thẻ ghi nợ (Debit Card): là phương tiện thanh toán, chi trả hoặc rút tiền mặt trên cơ sở số tiền của chính chủ thẻ gửi tại ngân hàng. Thẻ này không tạo tín dụng, hoạt động tương tự theo nguyên tắc thẻ ATM. Mỗi lần sử dụng, ngân hàng sẽ tự động trừ ngay số tiền tương ứng trên tài khoản của chủ thẻ. - Thẻ tín dụng (Credit Card): hình thức của thẻ tương tự thẻ thanh toán ngân hàng, điểm khác biệt cơ bản là nội dung kinh tế, mỗi lần sử dụng giao c 9 dịch là một lần nhận nợ vay ngân hàng.
Sử dụng thẻ này, ngân hàng thỏa thuận cấp một hạn mức vay cho chủ thẻ và chủ thẻ được sử dụng trong hạn mức đó, đến thời hạn quy định phải hoàn trả cho ngân hàng. - Thẻ du lịch và giải trí (Travel and Entertaiment Card): Người dùng thẻ này không phải trả lãi nhưng phải thanh toán trong thời hạn một tháng. Chủ thẻ loại này chủ yếu là doanh nhân đi du lịch và những người có thu nhập cao, đồng thời số điểm chấp nhận thanh toán loại này cũng ít. - Thẻ rút tiền mặt (Cash Card): là loại thẻ được dùng để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc ở ngân hàng.
Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng để rút tiền, yêu cầu đặt ra đối với loại thẻ này là chủ thẻ phải ký quỹ tiền gởi vào tài khoản ngân hàng hoặc chủ thẻ được cấp tín dụng thấu chi mới sử dụng được. Thẻ rút tiền mặt có hai loại: + Loại 1: chỉ rút tiền tại những máy tự động của ngân hàng phát hành. + Loại 2: được sử dụng để rút tiền không chỉ ở ngân hàng phát hành mà còn được sử dụng để rút tiền ở các ngân hàng cùng tham gia tổ chức thanh toán với ngân hàng phát hành thẻ. Theo phạm vi sử dụng - Thẻ nội địa: Là loại thẻ được giới hạn sử dụng trong phạm vi một quốc gia, do vậy đồng tiền được sử dụng trong giao dịch mua bán hàng hoá hay rút tiền mặt phải là đồng bản tệ của quốc gia đó.
Loại thẻ này cũng có công dụng như những loại thẻ trên nhưng hoạt động của nó đơn giản hơn bởi nó chỉ do một tổ chức hay do một ngân hàng điều hành từ việc tổ chức phát hành đến xử lý trung gian, thanh toán và việc sử dụng thẻ bị giới hạn trong phạm vi một quốc gia. - Thẻ quốc tế : Là loại thẻ thanh toán không chỉ dùng tại quốc gia nó được phát hành mà còn được dùng trên phạm vi quốc tế. Nó được hỗ trợ và quản lí trên toàn thế giới bởi các tổ chức tài chính lớn như Master Card, c 10 Visa… hoặc các công ty điều hành như Amex, JCB, Dinner Club… hoạt động trong một hệ thống nhất, đồng bộ. Các nghiệp vụ dịch vụ thẻ 1.