CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Những vấn đề cơ bản về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt 1.1 Khái niệm, mục đích 1.1 Khái niệm Dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt chỉ được phát triển và hoàn thiện trong nền kinh tế thị trường và được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực kinh tế tài chính đối nội cũng như đối ngoại. Nghiên cứu của Nguyễn Đăng Dờn (2009), dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt được hiểu là dịch vụ thanh toán không trực tiếp dùng tiền mặt mà dựa vào các chứng từ hợp pháp như giấy nhờ thu, giấy ủy nhiệm chi, séc,… để trích chuyển vốn tiền tệ từ tài khoản của đợn vị này sang tài khoản của đợn vị khác ở ngân hàng. Sự ra đời của đồng tiền ghi sổ luôn gắn liền với dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt. Xét về mặt lý luận, dịch vụ TTKDTM là một hình thức vận động của tiền tệ.
Ở đây, tiền vừa là công cụ kế toán, vừa là công cụ để chuyển hóa hình thức giá trị của hàng hóa và dịch vụ. Mặt khác, dịch vụ này là nghiệp vụ có qúa trình chứa đựng những công nghệ tinh vi và phức tạp. Khi thực hiện chức năng phương tiện thanh toán có thể sử dụng tiền đủ giá (vàng) hoặc dấu hiệu giá trị.2 Mục đích Hạn chế lượng tiền mặt lưu thông trong nền kinh tế, giảm thiểu chi phí xã hội: Hoạt động này sẽ trực tiếp làm giảm số lượng tiền mặt đang được lưu hành trên thị trường hàng hóa bằng cách khuyến khích từng người tiêu dùng TTKDTM. Người tiêu dùng có thể sử dụng các dịch vụ thu chi, thẻ ngân hàng, thanh toán trực tuyến mà không làm thay đổi giá trị tiền mặt tương đương.
8 Nhằm người tiêu dùng có thể sử dụng các dịch vụ thu chi, thẻ ngân hàng, thanh toán trực tuyến mà không làm thay đổi giá trị tiền mặt tương đương. Có sự xuất hiện của tiền mặt hay không chính là sự khác biệt lớn nhất giữa hai hình thức thanh toán bằng tiền mặt và không dùng tiền mặt. Cụ thể: Đối với cá nhân; Nhanh chóng, an toàn; Chính xác; Tiết kiệm; Đối với tổng thể kinh tế:; Giảm chi phí xã hội; Giảm lạm phát; Góp phần thiết thực phòng, chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố.2 Tính tất yếu khách quan và vai trò thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế 1.1 Đối với khách hàng Thanh toán không dùng tiền mặt là một phương thức thanh toán đơn giản, an toàn, tiết kiệm, thuận lợi cho sự trao đổi. Khi có tài khoản giao dịch ở ngân hàng, khách hàng có thể rút tiền ra hoặc chuyển trả cho khách hàng khác dễ dàng chỉ bằng một thủ tục đơn giản.
Đặc biệt, với sự phổ biến của các thiết bị điện tử cầm tay thông minh và cơ sở hạ tầng viễn thông phát triển như hiện nay, tính chủ động của khách hàng trong sử dụng dịch vụ ngày càng cao do giới hạn phạm vi không gian và thời gian được mở rộng. Thanh toán không dùng tiền mặt giúp nâng cao khả năng kiểm soát lượng tiền trong nền kinh tế; tiết kiệm chi phí in ấn, phát hành, vận chuyển tiền mặt; dự báo, kiềm chế lạm phát, thực thi chính sách tiền tệ tốt hơn. Tạo điều kiện cho hoạt động huy động vốn: đa số các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cần phải có tài khoản tại ngân hàng và phải duy trì số dư để thực hiện thanh toán. Vô hình chung ngân hàng đã huy động, tích tụ được các nguồn vốn tạm thời chưa sử dụng đến trong nền kinh tế, tạo nguồn lực để làm tốt vai trò trung gian tài chính của mình.
Thúc đẩy nghiệp vụ cấp tín dụng: lượng tiền gửi trên tài khoản thanh toán tuy không ổn định nhưng lớn và có lãi suất rất thấp. Như vậy ngân hàng vừa có được nguồn vốn dồi dào, vừa hạ được chi phí đầu vào để cho vay với lãi suất hấp dẫn, từ đó kích thích nhu cầu sử dụng vốn vay để tiêu dùng, phát triển sản xuất, kinh doanh. 9 Thanh toán không dùng tiền mặt là một công cụ thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng. Vì không phải dùng đến tiền mặt nên việc thanh toán sẽ thuận lợi, vốn tiền tệ được lưu thông nhanh và dễ kiểm soát hơn, do được thực hiện dưới hình thức “bút tệ” nên thanh toán không dùng tiền mặt sẽ giúp ngân hàng thực hiện chức năng tạo tiền, cung ứng nguồn lực hiệu quả hơn cho nền kinh tế.
Cuối cùng, thanh toán không dùng tiền mặt sẽ tạo điều kiện để thúc đẩy, phát triển các dịch vụ ngân hàng khác. Điều này không chỉ giúp ngân hàng thương mại mở rộng lãnh vực kinh doanh, cung ứng nhiều sản phẩm, dịch vụ đa dạng, phong phú mà còn tăng thu nhập, cải thiện cơ cấu nguồn thu để phát triển ổn định, bền vững hơn.2 Đối với doanh nghiệp TTKDTM mang lại lợi ích to lớn cho khách hàng từ việc tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn, giúp tiết kiệm các chi phí sẽ phát sinh như chi phí vận chuyển, kiểm đếm tiền mặt… từ đó giúp giảm chi phí đầu vào, hạ được giá thành sản phẩm giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh của khách hàng. Sử dụng các phương thức TTKDTM bảo đảm thuận tiện, nhanh chóng và an toàn. Khách hàng không phải đem theo một số lượng tiền mặt để thanh toán cho các giao dịch phát sinh và không phải bận tâm đến những rủi ro bất ngờ như trộm cắp, thiên tai, hỏa hoạn… mà chỉ cần một lệnh của chủ tài khoản, một giao dịch có thể được thực hiện ngay không kể tại bất cứ địa điểm giao dịch nào nhờ công nghệ chuyển tiền điện tử, công nghệ mạng internet.3 Đối với toàn bộ nền kinh tế TTKDTM làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông từ đó làm giảm một khoản chi phí rất lớn cho việc in ấn, bảo quản, vận chuyển, kiểm đếm tiền.
Mặt khác, TTKDTM góp phần tăng cường hiệu lực quản lý của ngân hàng. Các nghiệp vụ TTKDTM đều lưu lại trên sổ sách kế toán tại ngân hàng nên thông qua đó ngân hàng có thể kiểm soát hoạt động của các đơn vị thuộc nhiều ngành kinh tế khách một cách dễ dàng. TTKDTM còn góp phần chống thất thu thuế một cách hiệu quả.3 Các hình thức dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt trong ngân hàng thương mại 1.1 Thanh toán bằng Séc Séc là lệnh trả tiền của chủ tài khoản được lập theo mẫu quy định, ra lệnh cho NH trích từ tài khoản của mình một số tiền nhất định trả cho người có tên ghi trên séc hoặc cho người cầm séc. Séc là một trong những phương tiện TTKDTM được sử dụng rộng rãi cho các giao dịch thanh toán trong nước và quốc tế điều kiện phát hành, tiếp nhận và thanh toán séc phải tuân thủ theo luật hoặc quy định của mỗi quốc gia phù hợp với thông lệ quốc tế và tùy theo từng loại séc.
Séc là thể thức thanh toán không dùng tiền mặt ra đời rất sớm và từ lâu đã được sử dụng rộng rãi cho các giao dịch thanh toán trong nước và quốc tế. Từ năm 1931 một số nước châu Âu đã ký một bản công ước về séc tại Hội nghị quốc tế Giơnevơ đến nay vẫn được coi là luật chính để điều chỉnh các quan hệ liên quan đến phát hành và sử dụng séc. Theo đó, các bên liên quan đến séc gồm: Người phát hành séc để trả tiền, gọi là người phát hành. Người thực hiện trả tiền trên tờ séc là NH nơi người phát hành séc mở tài khoản giao dịch.
Người nhận tiền là người có tên trong séc hoặc người cầm séc. Đặc điểm của séc là có tính thời hạn. Tính thời hạn của séc được thể hiện ở chỗ: nó có giá trị thanh toán trong thời hạn có hiệu lực. Thời hạn này được quy định tùy thuộc vào mỗi nước và cho từng loại séc riêng biệt.
Séc có nhiều loại, được phân chia theo các tiêu thức khác nhau. Căn cứ vào tính chất chuyển nhượng, có các loại séc: Séc ký danh, được ghi rõ tên người thụ hưởng trên tờ séc; Séc vô danh, không ghi rõ tên người thụ hưởng trên tờ séc, bất kỳ ai cầm tờ séc cũng có thể nhận đủ số tiền ghi trên tờ séc tại NH; 11 Séc theo lệnh, ghi rõ trả tiền theo lệnh của người thụ hưởng, séc này được chuyển nhượng theo thủ tục ký hậu. Căn cứ vào hình thức thanh toán, có các loại séc: Séc tiền mặt, chỉ để dùng nhận tiền mặt tại NH. Séc chuyển khoản, dùng để chuyển khoản bằng cách trích tiền trên tài khoản của người phải trả chuyển sang tài khoản của người được hưởng.
Séc xác nhận, được NH đảm bảo khả năng thanh toán. Đặc điểm của séc là có tính thời hạn, chỉ có giá trị thanh toán trong thời hạn có hiệu lực được qui định tùy theo từng loại séc mà phạm vi thanh toán khác nhau. Nhược điểm của séc: So với các phương tiện thanh toán trên cơ sở chứng từ có thể ứng dụng tin học khác thì séc là một thể thức thanh toán có chi phí cao hơn.2 Thanh toán bằng lệnh chi - ủy nhiệm chi Ủy nhiệm chi là một hình thức thanh toán khá phổ biến trong môi trường kinh tế các nước khi bắt đầu chuyển sang kinh tế thị trường. Việc chuyển nợ có ủy quyền như các doanh nghiệp như ngân hàng trả lương vào tài khoản của cán bộ, công chức, công nhân, việc nộp các loại phí bảo hiểm… cũng là một dịch vụ thanh toán mới tương tự như ủy nhiệm nhưng hình thức luân chuyển thông tin có thể là đĩa hoặc băng từ hay qua mạng viễn thông.
Uỷ nhiệm chi (lệnh chi) là lệnh của chủ tài khoản ủy nhiệm cho tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình trả cho người được hưởng có tài khoản tại ngân hàng. Bên thụ hưởng có thể là bên trả tiền. 12 (1) Người trả tiền Người được hưởng (2) (4) (3) Ngân hàng phục vụ người Ngân hàng phục vụ người trả tiền được hưởng Hình 1.1 Quy trình thanh toán ủy nhiệm chi (1) Quan hệ mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ hoặc thanh toán nợ nần giữa bên trả tiền và bên được hưởng. (2) Người trả tiền lập ủy nhiệm chi ủy nhiệm cho ngân hàng trả tiền cho người được hưởng.
(3) Ngân hàng người trả tiền mở tài khoản trích tài khoản của người trả tiền chuyển đến ngân hàng người được hưởng mở tài khoản. (4) Ngân hàng người được hưởng mở tài khoản trả tiền và báo cho người bán biết.