CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Dịch vụ ngân hàng điện tử: 1.1 Các khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử: Dịch vụ NHĐT được giải thích như là khả năng của một khách hàng có thể truy cập từ xa vào một ngân hàng nhằm: thu thập các thông tin, thực hiện các giao dịch thanh toán tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại ngân hàng đó và đăng ký sử dụng các dịch vụ mới (Trương Đức Bảo, 2003. Ngân hàng điện tử và các phương tiện giao dịch thanh toán điện tử, Tạp chí tin học ngân hàng, số 4, tháng 7). Dịch vụ NHĐT là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay mua dịch vụ ngân hàng thông qua việc nối mạng máy vi tính của mình với ngân hàng (How the internet redefines banking, Tạp chí Australian Banker, tuyển tập 133, số 3, 6/1999). Dịch vụ NHĐT, hiểu theo nghĩa trực quan đó là một loại dịch vụ ngân hàng được khách hàng thực hiện nhưng không phải đến quầy giao dịch gặp nhân viên ngân hàng.
Hiểu theo nghĩa rộng hơn đây là sự kết hợp giữa một số hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông. E- Banking là một dạng của thương mại điện tử ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Cũng có thể hiểu cụ thể hơn, E-Banking là một hệ thống phần mềm tin học cho phép khách hàng có thể tìm hiểu thông tin hay thực hiện một số giao dịch ngân hàng thông qua phương tiện điện tử (Kim Đức Thịnh, 2008. Bàn về việc ứng dụng dịch vụ NHĐT ở ngân hàng thương mại, Nghiên cứu trao đổi.vn/web/home/vn/research/08/080131.
Tóm lại, các khái niệm trên đều định nghĩa NHĐT thông qua các dịch vụ cung cấp hoặc qua kênh phân phối điện tử. Các định nghĩa trên có thể đúng ở từng thời điểm nhưng không thể khái quát hết được cả quá trình lịch sử phát triển cũng 123doc 2 như tương lai phát triển của NHĐT. Một định nghĩa tổng quát nhất về NHĐT có thể được phát biểu như sau: “ Ngân hàng điện tử là ngân hàng mà tất cả các giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng (cá nhân và tổ chức) dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu số hoá nhằm cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng”.2 Các loại sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử: Với sự phát triển nhanh và mạnh mẽ của công nghệ thông tin và điện tử viễn thông trong những năm gần đây, đã ảnh hưởng khá rõ nét đến sự phát triển công nghệ ngân hàng. Hiện nay, dịch vụ NHĐT đang phát triển nhanh và mạnh mẽ ở các ngân hàng trên thế giới.
Các ngân hàng ngày càng đa dạng thêm nhiều sản phẩm, dịch vụ. Nhìn chung, các sản phẩm, dịch vụ NHĐT phổ biến hiện nay bao gồm: 1.1 Dịch vụ Call center: Dịch vụ Call center là trung tâm dịch vụ khách hàng qua điện thoại với nhiệm vụ: Cung cấp, tư vấn cho khách hàng tất cả thông tin về các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng bao gồm: tiền gửi thanh toán, tiết kiệm, cho vay, chuyển tiền; Tiếp nhận giải đáp các thắc mắc, khiếu nại từ khách hàng sử dụng các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng; Đăng ký vay và đăng ký làm thẻ qua điện thoại; Thực hiện thanh toán các hoá đơn như: tiền điện, nước, điện thoại, Internet, truyền hình cáp, bảo hiểm,… và các hình thức chuyển tiền khác; Phải có người trực 24/24, đây chính là nhược điểm của dịch vụ Call center.2 Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (Phone banking): Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (Phone banking), đây là dịch vụ cung cấp thông tin của ngân hàng cho khách hàng qua điện thoại hoàn toàn tự động, khách hàng có thể dùng điện thoại cố định, điện thoại di động gọi đến số điện thoại của tổng đài được quy định trước, có thể gọi bất kỳ lúc nào để được nghe các thông tin về sản phẩm dịch vụ ngân hàng, thông tin tài khoản cá nhân. Dịch vụ này được tổ chức dưới hình thức hệ thống tự động trả lời, hoạt động 24/24, các yêu cầu không chỉ thực hiện ở phạm vi cả nước mà thực hiện ở phạm vi toàn thế giới. Khách hàng 123doc 3 muốn biết các thông tin cần thiết, chỉ cần gọi đến số dịch vụ tổng đài nghe các thông tin giới thiệu, hướng dẫn và nhấn vào các phím trên bàn phím điện thoại theo mã do ngân hàng quy định để được nghe các thông tin cần thiết.
Do hệ thống trả lời tự động, nên các loại thông tin được ngân hàng thiết lập trước như: thông tin về lãi suất, tỷ giá, giá chứng khoán, thông tin cá nhân khách hàng như: số dư tài khoản, liệt kê các giao dịch cuối cùng trên tài khoản, các thông báo mới nhất,…Hệ thống cũng tự động gửi fax khi khách hàng yêu cầu các loại thông tin nói trên. Hiện nay các thông tin này cũng được hệ thống cập nhật liên tục, khác với trước đây các thông tin chỉ được cập nhật của cuối ngày hôm trước. Đây được xem là phương tiện đơn giản nhất trong loại hình dịch vụ NHĐT. Dịch vụ Phone banking cung cấp thông tin của ngân hàng cho khách hàng qua điện thoại hoàn toàn tự động nên không giải đáp được hết tất cả các thắc mắc của khách hàng, đây cũng chính là nhược điểm của dịch vụ.3 Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại di động (Mobile banking): Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại di động (Mobile banking), đây là hình thức thanh toán trực tuyến qua mạng điện thoại di động, cho phép khách hàng thanh toán những hoá đơn mua hàng mà không cần phải đến ngân hàng.
Ngoài ra, khách hàng còn có thể dùng điện thoại di động nhắn tin theo mẫu của ngân hàng gửi đến số dịch vụ quy định để: Kiểm tra số dư tài khoản và liệt kê giao dịch tài khoản tiền gửi thanh toán hoặc thẻ; Biết thông tin về lãi suất, tỷ giá hối đoái,…;Thực hiện thanh toán hoá đơn tiền điện, nước, điện thoại, truyền hình cáp, bảo hiểm,…Trích tiền gửi từ tài khoản tiền gửi thanh toán sang thẻ,…Ngoài những tiện ích mà Mobile banking mang lại, các giao dịch qua dịch vụ Mobile banking hiện nay ở các NHTM còn giới hạn ở một số các giao dịch có giá trị nhỏ là để đảm bảo an toàn.4 Dịch vụ ngân hàng tại nhà (Home banking): Dịch vụ ngân hàng tại nhà (Home banking), đây là kênh phân phối của NHĐT, cho phép khách hàng thực hiện hầu hết các giao dịch chuyển khoản tại nhà hoặc văn phòng làm việc, đi công tác nước ngoài,…hay bất cứ nơi nào có kết nối 123doc 4 internet mà không cần phải đến ngân hàng. Để sử dụng dịch vụ Home banking, khách hàng chỉ cần máy tính cài đặt chương trình do ngân hàng cung cấp, kết nối với mạng nội bộ của ngân hàng (mạng intranet) hoặc kết nối với internet, trên đường truyền internet, khách hàng có thể kết nối với hệ thống ngân hàng qua phương thức VPN (Virtual Private Network-mạng riêng ảo) và thực hiện các giao dịch qua chương trình, website của ngân hàng. Tính vượt trội của Home banking là thực hiện giao dịch nhanh hơn, an toàn hơn so với internet banking, cho phép khách hàng tiếp cận nhiều dịch vụ ngân hàng hơn. Tuy nhiên, khách hàng sử dụng Home banking sẽ chịu phí sử dụng dịch vụ.5 Dịch vụ ngân hàng qua Internet (Internet banking): Dịch vụ ngân hàng qua Internet (Internet banking), đây là một kênh phân phối rộng các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng tới khách hàng ở bất cứ nơi đâu và bất cứ thời gian nào, khách hàng có thể truy cập vào website của ngân hàng để được cung cấp các thông tin, hướng dẫn đầy đủ các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng.
Để sử dụng dịch vụ Internet banking, khách hàng phải đăng ký sử dụng dịch vụ Internet banking với ngân hàng để được cung cấp mã số truy cập và mật khẩu, khách hàng cần có máy tính kết nối với Internet là có thể xem số dư tài khoản, liệt kê các giao dịch phát sinh, xem thông tin tỷ giá, lãi suất tiền gửi, thanh toán các hoá đơn tiền điện, nước, điện thoại,…thực hiện các giao dịch chuyển khoản,…khách hàng có thể gửi các thắc mắc, góp ý về sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng,…Như vậy, dịch vụ Internet banking có nhiều ưu điểm, tiện ích như tiết kiệm thời gian, chi phí cho khách hàng, ngân hàng. Tuy nhiên, Internet banking phụ thuộc hoàn toàn vào mạng Internet nên những vấn đề như: bị tin tặc, virus tấn công, nghẽn mạng, bảo mật,…là trở ngại lớn cho khách hàng và ngân hàng.3 Những ưu việt, hạn chế và rủi ro của dịch vụ ngân hàng điện tử: 1.1 Những ưu việt của dịch vụ ngân hàng điện tử: Thuận tiện, nhanh chóng và tiết kiệm thời gian: Dịch vụ NHĐT giúp cho 123doc 5 khách hàng có thể giao dịch với ngân hàng một cách thuận tiện, nhanh chóng, có thể thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng tại bất kỳ thời điểm nào (24 giờ mỗi ngày, 7 ngày một tuần) và bất cứ nơi đâu. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với những khách hàng có ít thời gian để đi đến chi nhánh, phòng giao dịch trực tiếp giao dịch với ngân hàng, các khách hàng cá nhân có số tiền giao dịch mỗi lần không lớn, có số lần giao dịch ít. Đây là tiện ích mà các giao dịch kiểu ngân hàng truyền thống khó có thể đạt được với tốc độ nhanh, chính xác so với NHĐT, đó chính là sự tiện lợi thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ NHĐT.
Tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận: Công việc giao dịch rất dễ dàng, khách hàng ở bất kỳ nơi nào chỉ cần một máy điện thoại, một máy vi tính kết nối mạng là khách hàng có thể thực hiện xong một giao dịch trong vài phút mà không mất thời gian, chi phí để đi đến ngân hàng. Từ đó, các ngân hàng cũng tiết kiệm được nhiều chi phí như: chi phí nhân lực, chi phí quản lý, chi phí đầu tư cho mặt bằng, trang thiết bị,…góp phần tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Chi phí giao dịch NHĐT được đánh giá là ở mức rất thấp so với giao dịch truyền thống, đặc biệt là giao dịch qua internet. Do đó, khách hàng giao dịch qua dịch vụ NHĐT ngày càng nhiều hơn so với giao dịch truyền thống.
Mở rộng phạm vi hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh: Dịch vụ NHĐT cho phép khách hàng có thể ngồi ở nhà, cơ quan,…để thực hiện các giao dịch từ xa qua mạng, mà không cần đến ngân hàng. Do đó, NHĐT giúp cho các NHTM thực hiện chiến lược toàn cầu hoá mà không cần mở thêm chi nhánh, phòng giao dịch ở trong nước cũng như ở nước ngoài.