Chương 1 Luật các tổ chức tín dụng 1997 có viết: Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng sổ tiền này để cấp tín dụng và các dịch vụ thanh toán. Như vậy, có sự phân biệt giữa hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng. Tuy nhiên, theo quy định của Luật các tô chức tín dụng 2010 không còn tồn tại khái niệm dịch vụ ngân hàng thì hoạt động Ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ : nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán. Phăn loại dịch vụ Ngân hàng Hiện nay, Sản phẩm dịch vụ củalsígân hàng Thương mại thường được phân chia theo các tiêu chí sau: a.
Phân loại theo quy mô giao dịch của Ngân hàng Sản phẩm dịch vụ Ngân hàng bao gồm hai nhóm chính là nhóm sản phẩm dịch vụ Ngân hàng bán lẻ dành cho cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ và nhóm sản phẩm dịch vụ Ngân hàng bán buôn dành cho Doanh nghiệp, tập đoàn lớn. Phăn loại theo thời hạn cung ứng dịch vụ Dịch vụ Ngân hàng bao gồm dịch vụ Ngân hàng ngắn hạn và dịch vụ Ngân hàng trung dài hạn. Phân loại theo tính chất nghiệp vụ dựa trên tỉnh chất của bảng cân đối tài sản Sản phẩm dịch vụ Ngân hàng bao gồm các sản phẩm tiền gửi, sản phàm dịch vụ tín dụng, và các sản phấm dịch vụ khác. Phân loại theo quá trình ph át triển của Ngân hàng thương m ại: Dịch vụ Ngân hàng bao gồm: -Dịch vụ Ngán hàng truyền thống: dịch vụ nhận tiền gửi, cho vay và dịch vụ thanh toán.
-Dịch vụ Ngân hàng hiện đại'. Cho vay tiêu dùng, tư vấn tài chính, quản lý tiền mặt, cung cấp dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp dịch vụ Ngân hàng đầu tư và Ngân hàng bán buôn, bán các dịch vụ bảo hiểm, cho vay tài trợ dự án, dịch vụ thuê mua. Vai trò của Sản phẩm dịch vụ Ngân hàng Đe tồn tại và phát triển trong bổi cảnh cạnh tranh gay gắt trên thị trường cung ứng đa dạng các dịch vụ tài chính, NHTM phải cung úng được dịch vụ đáp ứng được nhu cầu xã hội. Sản phẩm dịch vụ Ngân hàng là công cụ để Ngân hàng thực hiện vai trò chức năng của mình.
Ví dụ: đối với sản phẩm dịch vụ tín dụng: giúp chu chuyển dòng vốn tiết kiệm nhàn rôi thành 8 các khoản tín dụng tài trợ cho hoạt động đầu tư của nền kinh tế. Với dịch vụ thanh toán, Ngân hàng thưong mại thay mặt khách hàng thực hiện hoạt động thanh toán trên cơ sở cung câp phương tiện thanh toán như séc, thẻ thanh toán.và mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối với các quỹ. Dịch vụ Ngân hàng với vai trò là đại lý ủy thác đầu tư: Ngân hàng thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản trên cơ sở họp đồng uỷ thác. Dịch vụ Ngân hàng với vai trò thực hiện chính sách là thông qua thu cung ứng dịch vụ NHTM thực hiện các chính sách vĩ mô của chính phủ, góp phần điều tiết nền sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sản phẩm dịch vụ Ngân hàng Danh mục sản phấm dịch vụ Ngân hàng được điều chỉnh nhanh theo hướng đa dạng và chuyên biệt thể hiện sự tăng trưởng loại hình dịch vụ theo hướng thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Từ sự hiêu biết và đòi hỏi cao hơn của khách hàng và sự đổi mới của công nghệ quá trình mở rộng danh mục dịch vụ Ngân hàng được diễn ra rất nhanh chóng dưới áp lực cạnh tranh gia tăng giữa NHTM với các định chế tài chính phi Ngân hàng. Điều này gây áp lực tăng chi phí và đặt Ngân hàng vào tình trạng rủi ro tiềm tàng cao hơn. Tuy nhiên, những dịch vụ mới cũng tác động tích cực tới hoạt động Ngân hàng vì nó tạo ra nguồn thu mới cho Ngân hàng từ phí dịch vụ.
Đây là nguồn thu có xu hướng tăng nhanh hơn so với nguồn thu từ dịch vụ truyền thống. Các yếu tố ảnh hưởng chính đến khả năng bán sản phẩm dịch vụ * Sự gia tăng cạnh tranh Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính ngày càng trở nên quyết liệt khi Ngân hàng và đối thủ cạnh tranh mở rộng danh mục dịch vụ của mình. Các Ngân hàng trong nước cung cấp dịch vụ tín dụng, tiền gửi hay dịch vụ tư vân đều đối mặt với sự cạnh tranh trực tiếp từ Ngân hàng khác hoặc các tập đoàn tài chính Ngân hàng lón. Áp lực cạnh tranh đóng vai trò như động lực thúc đấy tạo ra sự phát triển dịch vụ mới trong tương lai.
* Phi quản lý hoá 9 Cạnh tranh gia tăng và quá trình mở rộng dịch vụ Ngân hàng được thúc đẩy bởi sự nới lỏng các quy định, giảnr.sự kiếm soát của chính phủ. Do đó, chi phí và rủi ro tiềm tàng cũng tăng lên. * Sự gia tăng chi p h í vốn Sự nới lỏng các quy định quy chế tài chính kết hợp với sự gia tăng cạnh tranh làm tăng chi' phí huy động vốn. Các Ngân hàng cạnh tranh lẫn nhau trong hoạt động huy động vốn dẫn đến cạnh tranh lãi suất và đe thu hút tiền gửi các Ngân hàng buộc tăng lãi suất nhằm tài trợ cho tài sản có.
Các Ngân hàng cũng nồ lực tìm kiếm nguồn vốn mới dưới nhiều phương thức: hoạt động trên thị trưòng mở, chửng khoán hoá một số tài sản có. * Sự gia tăng nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất. Số lượng NHTM tăng lên gia tăng tính cạnh tranh khiến các khoản tiền gửi với lãi suất cố định không còn tính bền vững như trước nữa bởi. Do đó các Ngân hàng phải muốn giữ thị phần dịch vụ buộc phải đảm bảo đáp ứng nhu cầu thu nhập công chúng gửi tiền và nhạy cảm với điều chỉnh thói quen phân phổi các khoản tiết kiệm của công chúng.
* Sụ gia tăng nhanh chóng trong danh mục dịch vụ. Quá trình mở rộng danh mục dịch vụ đã tăng tốc trong những năm gần đây dưới áp lực cạnh tranh gia tăng từ các tổ chức tài chính khác, từ sự hiêu biết và đòi hỏi cao hơn của khách hàng, và từ sự thay đổi công nghệ. Các dịch vụ mới đã có ảnh hưởng tốt đến ngành công nghiệp này thông qua việc tạo ra những nguồn thu mới cho Ngân hàng. Các khoản lệ phí của dịch vụ không phải lãi, một bộ phận có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn so với các nguôn thu truyền thống từ lãi cho vay.
* Cách mạng trong công nghệ Ngân hàng. Đối mặt với chi phí hoạt động cao hơn, từ nhiều năm gần đây các Ngân hàng đã và đang chuyển sang sử dụng hệ thống hoạt động tự động và điện tử thay thế cho hệ thống dựa trên lao động thủ công, đặc biệt là trong công việc nhận tiền gửi, thanh toán bù trừ và cấp tín dụng. Do đó, Ngân hàng đang trở thành ngành sử dụng nhiều vốn và chi phí cố định; sử dụng ít lao động và chi 10 phí biến đổi. Trong tương lai, việc sản xuất và cung cấp dịch vụ Ngân hàng sẽ hoàn toàn tự động.
Những buớc đi đó sẽgiảm đáng kể chi phí nhân công hóa Ngân hàng và gây ra tình trạng mất việc làm khi máy móc thay thế người lao động. Tuy nhiên, những kinh nghiệm gần đây gợi ý rằng, một ngành Ngân hàng hoàn toàn tự động có thể vẫn còn là điều xa vời. Một tỷ lệ lớn khách hàng vẫn ưa chuộng các dịch vụ của con người và những cơ hội để nhận được sự tư vấn cá nhân về các vấn đề tài chính. * Sự củng cố và m ở rộng hoạt động về mặt địa ỉỷ Sử dụng có hiệu quả quá trình tự động hóa và những đổi mới công nghệ đòi hỏi các hoạt động Ngân hàng phải có qui mô lớn.
Vì vậy, Ngân hàng cần phải mở rộng cơ sở khách hàng bằng cách vươn tới các thị trường mới, xa hơn và gia tăng số lượng tài khoản. Kết quả là hoạt động mở chi nhánh Ngân hàng diễn ra. Mô hình công ty sở hữu Ngân hàng mua lại các Ngân hàng nhỏ và đưa chúng trở thành bộ phận của các tổ chức Ngân hàng đa trụ sở đã ngày càng phố biến. LÝ LUẬN VÈ DỊCH v ụ NGÂN HÀNG BÁN LẺ 1.
Khái niệm Dịch vụ Ngân hàng bán lẻ (DVNHBL) là loại hình dịch vụ điển hình nơi khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại các điểm giao dịch của Ngân hàng để thực hiện các dịch vụ như gửi tiền, vay tiền, thanh toán, kiểm tra tài khoản, dịch vụ thẻ. Đổi với các NHTM, DVNHBL giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị phần, mang lại nguồn thu ổn định và chất lượng cho các Ngân hàng. Bên cạnh đó, nó mang lại cơ hội đa dạng hóa cá sản phẩm dịch vụ phi Ngân hàng, cơ hội bán chéo với cá nhân và doanh nghiệp nhỏ. Quản điểm khác thì cho rằng: DVNHBL là dịch vụ cung ứng sản phẩm —dịch vụ Ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh.
Khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm và dịch vụ Ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin. 11 Một quan điểm cổ điển về thị trường DVNHBL là thị trường được phục vụ bởi các Ngân hàng địa phương có qui mô nhỏ, chuyên về các phân khúc thị trường vi mô. Các Ngân hàng này áp dụng phương thức cho vay dựa trên quan hệ, phụ thuộc vào thông tin mềm thu thập được qua mổi liên hệ cá nhân. Tuy nhiên, về khả năng sinh lời cũng như mức cạnh tranh trong các thị trường dịch vụ Ngân hàng khác, nhiều Ngân hàng có qui mô lớn hơn - kể cả các Ngân hàng trong nước thuộc sở hữu tư nhân và nhà nước và các Ngân hàng nước ngoài cũng đã bắt đầu dịch chuyển hướng tăng tỷ trọng cho phân khúc thị trường bán lẻ.
Thị trường bán lẻ là một cách nhìn hoàn toàn mới về thị trường tài chính, qua đó, phần đông những người lao động nhỏ lẻ sẽ được tiếp cận với các sản phẩm DVNH, tạo ra một thị trường tiềm năng đa dạng và năng động. Hiện nay, có nhiều khái niệm về DVNHBL theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Ngân hàng bán lẻ thực ra là hoạt động bao trùm tất cả các mặt tác nghiệp của NHTM như tín dụng, các dịch vụ. chứ không chỉ là DVNH.