phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn đƣợc kết cấu theo 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánhThăng Long. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân Thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Thăng Long. 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái quát về CVTD của NHTM 1. Khái niệm CVTD CVTD có lịch sử bắt nguồn từ việc đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa của các hãng bán lẻ dƣới hình thức trả góp, tuy nhiên do năng lực tài chính không đủ để duy trì các tài sản có này cũng nhƣ sự thiếu hụt vốn lƣu động đã bắt buộc các hãng bán lẻ phải tìm kiếm nguồn tài trợ từ các NHTM và các định chế tài chính. Cùng với quá trình phát triển của nền sản xuất, nhu cầu về tiêu dùng các hàng hóa lâu bền, xa xỉ cũng nhƣ các dịch vụ tốn kém về chi phí cũng tăng lên. Nhu cầu vay tiêu dùng cũng từ đó xuất hiện và tăng lên một cách mạnh mẽ.
Thêm vào đó, khi nền kinh tế phát triển đến mức độ nhất định sẽ hình thành nên một tầng lớp dân cƣ có thu nhập tƣơng đối ổn định. Tầng lớp này luôn mong muốn có mức thu nhập cao hơn mức mà thu nhập hiện tại của họ có thể cung cấp đƣợc. Đây cũng là một trong những yếu tố góp phần hình thành và phát triển nhu cầu vay tiêu dùng. Có nhiều cách hiểu khác nhau về CVTD, theo Từ điển Tiếng Việt “Cho vay tiêu dùng là hình thức mà theo đó ngân hàng thỏa thuận để khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình sử dụng một khoản tiền với mục đích tiêu dùng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định”.
Hồ Diệu - tác giả giáo trình TD ngân hàng, NXB Thống kê, năm 2001 thì CVTD là các khoản vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của ngƣời tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp những ngƣời này trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình và xe cộ… Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch… cũng có thể đƣợc tài trợ bởi CVTD. Nói chung, CVTD là hình thức cấp tiêu dùng rất hữu ích nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu, mua sắm, sửa chữa nhà cửa…của các cá nhân, hộ gia đình. Các khoản vay này giúp ngƣời tiêu dùng có thể sử dụng hàng hoá, dịch vụ trƣớc khi họ có khả năng chi trả, tạo cho họ có cuộc sống với chất lƣợng cao hơn.
Đặc điểm của CVTD Hoạt động CVTD có 5 đặc điểm chính, cụ thể nhƣ sau: Quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng thường rất lớn Thông thƣờng những khoản vay tiêu dùng có quy mô nhỏ (ngoại trừ cho vay bất động sản thì quy mô có thể lớn hơn nhƣng vẫn không thể so sánh với các khoản cho vay sản xuất kinh doanh hoặc các khoản cho vay khác). Điều này có thể lý giải là do giá trị của hàng hóa tiêu dùng thƣờng không quá lớn, hoặc khách hàng chỉ vay thêm để bổ sung vào số tiền mà họ đang tích lũy nhƣng còn thiếu.Mặt khác, do vay tiêu dùng có độ rủi ro cao mà ngân hàng thƣờng thận trọng hơn trong việc quyết định vay hay không cho vay khoản tiền lớn đối với khách hàng có mục đích tiêu dùng, nhất là trƣờng hợp cho vay không có tài sản đảm bảo. Tuy nhiên, xét về mặt số lƣợng, các món vay tiêu dùng lại lớn bởi vì nhu cầu vay tiêu dùng ngày một tăng, liên tục và thƣờng xuyên và nó cần thiết đối với mọi tầng lớp trong xã hội từ những ngƣời có thu nhập cao đến có thu nhập trung bình và thấp với nhiều nhu cầu phong phú, đa dạng. Khi mức sống và trình độ dân trí ngày càng cao, ngƣời dân càng có nhu cầu vay ngân hàng để phục vụ mục đích tiêu dùng và sinh hoạt của mình, tất cả nhằm cải thiện và nâng cao mức sống, mức hƣởng thụ.
Vì vậy, số lƣợng các món vay tiêu dùng sẽ ngày càng tăng tỷ lệ thuận theo thời gian và theo sự phát triển của nền kinh tế. Chi phí trên một đồng vốn cho vay khá lớn Trong danh mục cho vay của ngân hàng, CVTD là một trong những loại có chi phí lớn nhất. Do đặc điểm của nó là quy mô món vay nhỏ nhƣng số lƣợng món vay nhiều, số lƣợng khách hàng đông nên ngân hàng phải sử dụng nhiều thời gian và huy động một đội ngũ nhân viên lớn vào công việc cho vay, từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng, giải ngân, kiểm soát khách hàng trong khi cho vay và thu nợ. Rất nhiều chi phí về thời gian, nhân lực để điều tra, thu thập các thông tin về chủ thể vay tiền nhƣ mức thu nhập, tình hình sức khỏe, đạo đức… Đồng thời, việc quản lý các khoản CVTD cũng không phải là một vấn đề đơn giản đối với các ngân hàng, do đó chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ cho vay cao hơn so với các loại hình cho vay khác.
8 Các khoản CVTD có rủi ro lớn Các khoản CVTD có nhiều rủi ro nhất đối với ngân hàng vì bên cạnh sự ảnh hƣởng của các yếu tố khách quan nhƣ môi trƣờng kinh tế, văn hóa, xã hội nó còn phải chịu tác động của những nhân tố chủ quan xuất phát từ bản thân KH nhƣ tình hình tài chính của các cá nhân và hộ gia đình có thể thay đổi bất thƣờng tùy theo tình trạng công việc hay sức khỏe của họ. Nếu ngƣời vay bị chết, ốm, hoặc bị mất việc thì ngân hàng sẽ rất khó khăn trong quá trình thu hồi nợ. Trong khi đó, các cá nhân lại dễ dàng giữ kín các thông tin đáng ra phải trình bày (nhƣ triển vọng về công việc cũng nhƣ sức khỏe) hơn là hầu hết các hãng kinh doanh khác (vì các hãng này phải gửi kèm theo đơn xin vay báo cáo tài chính thuế hoặc báo cáo tài chính đã đƣợc kiểm toán). Hơn nữa, các khó khăn về tài chính đối với các cá nhân và hộ gia đình không dễ dàng đƣợc giải quyết nhƣ đối với các công ty, doanh nghiệp, do đó rủi ro mà ngân hàng gặp phải trong việc thu hồi nợ trong trƣờng hợp khách hàng gặp khó khăn về tài chính là khá cao.
CVTD thường nhạy cảm với tình hình kinh tế Nguồn trả nợ chính của khoản CVTD thƣờng là từ lƣơng của ngƣời vay. Do vậy vào thời kỳ kinh tế tăng trƣởng, ngƣời tiêu dùng lạc quan về thu nhập của họ và họ sẽ mạnh dạn vay vốn ngân hàng để tiêu dùng. Ngƣợc lại vào thời kỳ kinh tế suy thoái, khi các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, ngƣời tiêu dùng sẽ không thấy tin tƣởng vào tƣơng lai và cùng với những lo lắng về nguy cơ thất nghiệp, do đó họ sẽ có xu hƣớng cắt giảm chi tiêu và hạn chế vay tiêu dùng. CVTD thường có lãi suất cao Lãi suất CVTD luôn là một trong những lãi suất hấp dẫn nhất trên thị trƣờng tài chính bởi nó phải đảm bảo bù đắp các chi phí, rủi ro đồng thời phải tạo ra đƣợc lợi nhuận cho ngân hàng.
Không nhƣ hầu hết các khoản vay kinh doanh, lãi suất có thể thay đổi tùy theo điều kiện thị trƣờng, các khoản vay tiêu dùng thƣờng có lãi suất cố định, đặc biệt là trong vay tiêu dùng trả góp. Các NHTM hoạt động trên cơ sở tự cân đối thu - chi. Giá cả của từng sản 9 phẩm dịch vụ ngân hàng đều đƣợc xây dựng trên cơ sở cân bằng thu nhập - rủi ro, đảm bảo an toàn hoạt động. Chi phí quản lý các khoản vay gần nhƣ tƣơng đồng trong khi các khoản vay tiêu dùng thƣờng có giá trị nhỏ hơn các khoản vay của doanh nghiệp.
Mặt khác, các khoản vay tiêu dùng thƣờng có thời hạn dài hơn (có những khoản vay lên đến 15-20 năm), trong khi ngân hàng thƣờng sử dụng một tỉ lệ nhất định của vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Vì vậy, lãi suất của khoản vay tiêu dùng thƣờng có xu hƣớng cao hơn các khoản vay khác, đặc biệt là các khoản vay của doanh nghiệp. Phân loại CVTD Có nhiều cách để phân loại CVTD, tuy nhiên có 5 cách phân loại chính nhƣ sau: 1. Căn cứ vào mục đích cho vay Theo tiêu thức này, ngƣời ta phân ra làm 2 loại hình CVTD, bao gồm: CVTD cƣ trú và CVTD phi cƣ trú.
Cụ thể: CVTD cƣ trú: Là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng hoặc cải tạo nhà cho khách hàng là các cá nhân, hộ gia đình… CVTD phi cƣ trú: Là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho việc trang trải các chi phí nhƣ chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí cho học hành, giải trí, du lịch… 1. Căn cứ vào phương thức hoàn trả Theo tiêu thức này, ngƣời ta phân ra làm 3 loại hình CVTD, bao gồm: CVTD trả góp, CVTD trả một lần và CVTD tuần hoàn. Tuy nhiên phổ biến nhất hiện nay vẫn là hình thức CVTD trả góp, cụ thể: a. CVTD trả góp Đây là hình thức cho vay trong đó ngƣời đi vay trả nợ (gồm cả gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay.
Phƣơng thức này thƣờng áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn hoặc thu nhập từng kỳ của ngƣời đi vay không đủ để thanh toán hết một lần số nợ vay. Đối với loại CVTD này, các ngân hàng thƣờng chú ý đến một số vấn đề cơ bản sau: Loại tài sản được tài trợ: Thiện chí trả nợ của ngƣời vay sẽ tốt hơn nếu tài sản 10 hình thành từ tiền vay đáp ứng đƣợc nhu cầu thiết yếu của họ và gắn bó với họ lâu dài trong tƣơng lai. Khi lựa chọn tài sản để tài trợ, các ngân hàng thƣờng chú ý đến điều này, vì vậy thƣờng chỉ muốn tài trợ cho những tài sản có thời hạn sử dụng lâu bền hay có giá trị lớn vì đối với những loại tài sản nhƣ vậy ngƣời tiêu dùng sẽ đƣợc hƣởng những tiện ích từ chúng trong một khoảng thời gian dài.