phần mở đầu, kết luận, luận văn có kết cấu gồm 3 phần chính: Chƣơng I. Cơ sở lý luận chung về QLDA và năng lực của ban QLDA. Chƣơng II. Thực trạng năng lực QLDA của ban QLDA HACC1 Chƣơng III.
Một số giải pháp nâng cao năng lực QLDA của ban QLDA HACC1 -3- CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN VÀ NĂNG LỰC CỦA BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN. KHÁI NIỆM VỀ DỰ ÁN VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN 1. Khái niệm về dự án đầu tư. Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại thì “DAĐT là một tập hợp các hoạt động đặc thù nhằm tạo nên một thực tế mới có phƣơng pháp trên cơ sở các nguồn lực nhất định”.ở Việt Nam, khái niệm DAĐT đƣợc trình bày trong nghị định 52/1999 NĐ-CP về quychế quản lý đầu tƣ và xây dựng cơ bản: “ DAĐT là tập hợp các đề xuất có liên quan tới việc bỏ vốn để tạo vốn, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt đƣợc sự tăng trƣởng về số lƣợng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lƣợng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thơì gian nhất định”.
• Về mặt hình thức: DAĐT là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt đƣợc những kết quảvà thực hiện đƣợc những mục tiêu nhất định trong tƣơng lai. • Về mặt nội dung: DAĐT là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhaunhằm đạt đƣợc những mục đích đã đề ra thông qua nguồn lực đã xác định nhƣ vấn đề thị trƣờng, sản phẩm, công nghệ, kinh tế , tài chính… Vậy, DAĐT phải nhằm việc sử dụng có hiệu quả các yếu tố đầu vào để thu đƣợc đầu ra phù hợp với những mục tiêu cụ thể. Đầu vào là lao động, nguyên vật liệu, đất đai, tiền vốn… Đầu ra là các sản phẩm dịch vụ hoặc là sự giảm bớt đầu vào. Sử dụng đầu vào đƣợc hiểu là sử dụng các giải pháp kỹ thuật công nghệ, biện pháp tổ chức quản trị và các luật lệ… Dù xem xét dƣới bất kỳ góc độ nào thì DAĐT cũng gồm những thành phần chính sau: + Các mục tiêu cần đạt đƣợc khi thực hiện dự án: Khi thực hiện dự án, sẽ mang lại nhữnglợi ích gì cho đất nƣớc nói chung và cho CĐT nói riêng.
-4- + Các kết quả: Đó là những kết quả có định lƣợng đƣợc tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án. Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện các mục tiêu của dự án. + Các hoạt động: Là những nhiệm vụ hoặc hành động đƣợc thực hiện trong dự án để tạo ra các kết quả nhất định, cùng với một lịch biểu và trách nhiệm của các bộ phận sẽ đƣợc tạo thành kế hoạch làm việc của dự án. + Các nguồn lực: Hoạt động của dự án không thể thực hiện đƣợc nếu thiếu các nguồn lực về vật chất, tài chính và con ngƣời.
Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tƣ cho các dự án. + Thời gian: Độ dài thực hiện DAĐT cần đƣợc cố định. DAĐT đƣợc xây dựng phát triển bởi một quá trình gồm nhiều giai đoạn. Các giai đoạn này vừa có mối quan hệ gắn bó vừa độc lập tƣơng đối với nhau tạo thành chu trình của dự án.
Chu trình của dự án đƣợc chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị đầu tƣ, giai đoạn thực hiện đầu tƣ và giai đoạn vận hành kết quả. Giai đoạn chuẩn bị đầu tƣ tạo tiền đề quyết định sự thành công hay thất bại ở giai đoạn sau, đặc biệt đối với giai đoạn vận hành kết quả đầu tƣ. Đối với CĐT và nhà tài trợ, việc xem xét đánh giá các giai đoạn của chu trình dự án là rất quan trọng. Nhƣng đứng ở các góc độ khác nhau, mỗi ngƣời có mối quan tâm và xem xét các giai đoạn và chu trình cũng khác nhau.
CĐT phải nắm vững ba giai đoạn, thực hiện đúng trình tự. Đó là điều kiện để đảm bảo đầu tƣ đúng cơ hội và có hiệu quả. Vai trò của DAĐT. Vai trò của DAĐT đƣợc thể hiện cụ thể ở những điểm chính sau: • Đối với CĐT: dự án là căn cứ quan trọng để quyết định sự bỏ vốn đầu tƣ.
DAĐT đƣợc soạn thảo theo một quy trình chặt chẽ trên cơ sở nghiên cứu đầy đủ về các mặt tài chính, thị trƣờng, kỹ thuật, tổ chức quản lý. Do đó, CĐT sẽ yên tâm hơn trong việc bỏ vốn ra để thực hiện dự án vì có khả năng mang lại lợi nhuận và ít rủi ro. Mặt khác, vốn đầu tƣ của một dự án thƣờng rất lớn, chính vì vậy ngoài phần vốn -5- tự có các nhà đầu tƣ còn cần đến phần vốn vay ngân hàng. Dự án là một phƣơng tiện rất quan trọng giúp CĐT thuyết phục ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng xem xét tài trợ cho vay vốn.
DAĐT cũng là cơ sở để chủ ĐTXD kế hoạch đầu tƣ, theo dõi, đôn đốc và kiểm tra quá trình thực hiện đầu tƣ. Quá trình này là những kế hoạch mua sắm máy móc thiết bị, kế hoạch thi công, xây lắp, kế hoạch sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, dự án còn là căn cứ để đánh giá và điều chỉnh kịp thời những tồn đọng vƣớng mắc trong quá trình thực hiện đầu tƣ, khai thác công trình. • Đối với Nhà nƣớc: DAĐT là cơ sở để cơ quan quản lý Nhà nƣớc xem xét, phê duyệt cấp vốn và cấp giấy phép đầu tƣ.
Vốn ngân sách Nhà nƣớc sử dụng để đầu tƣ phát triển theo kế hoạch thông qua các dự án các công trình, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nƣớc, cac DAĐT quan trọng của quốc gia trong từng thời kỳ. Dự án sẽ đƣợc phê duyệt, cấp giấy phép đầu tƣ khi mục tiêu của dự án phù hợp với đƣờng lối, chính sách phát triển kinh tế, xã hội của đất nƣớc, khi hoạt động của dự án không gây ảnh hƣỏng đến môi trƣờng và mang lại hiệu quả kinh tế- xã hội. Dự án đƣợc phê duyệt thì các bên liên q uan đến dự án phải tuân theo nội dung, yêu cầu của dự án. Nếu nảy sinh mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bên liên quan thì dự án là một trong những cơ sở pháp lý để giải quyết.
• Đối với nhà tài trợ: Khi tiếp nhận dự án xin tài trợ vốn của CĐT thì họ sẽ xem xét các nội dung cụ thể của dự án đặc biệt về mặt kinh tế tài chính, để đi đến quyết định có đầu tƣ hay không. Dự án chỉ đƣợc đầu tƣ vốn nếu có tính khả thi theo quan điểm của nhà tài trợ. Ngƣợc lại khi chấp nhận đầu tƣ thì dự án là cơ sở để các tổ chức này lập kế hoạch cấp vốn hoặc cho vay theo mức độ hoàn thành kế hoạch đầu tƣ đồng thời lập kế hoạch thu hồi vốn. Yêu cầu cơ bản của một dự án đầu tư.
Khuyến khích các thành phần kinh tế ĐTXD các cơ sở sản xuất kinh doanh phù hợp với chiến lƣợc và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc trong từng thời kỳ để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp hoá, hiện đại -6- hoá, đẩy nhanh tiến độ tăng trƣởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Sử dụng các nguồn vốn cho ĐTXD công trình, quản lý đạt hiệu quả cao nhất, chống thất thoát, lãng phí. Bảo đảm ĐTXD đƣợc thực hiện theo đúng quy hoạch, kiến trúc, đáp ứng yêu cầu bền vững, mỹ quan, bảo vệ môi trƣờng sinh thái, tạo môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh trong xây dựng, áp dụng công nghệ tiên tiến, bảo đảm chất lƣợng và thời gian xây dựng với chi phí hợp lý, bảo đảm tiết kiệm, thực hiện bảo hành công trình. Dự án đạt hiệu quả kinh tế - xã hội.
Phân loại dự án đầu tư xây dựng: Tiêu chí phân loại, phân nhóm dự án: - Tuỳ theo tính chất và quy mô đầu tƣ, dự án ĐTXD công trình đƣợc phân thành 3 nhóm A, B, C để phân cấp quản lý và đƣợc thể hiện tại Phụ lục số 1. - Dự án quan trọng quốc gia là những dự án do Quốc hội thông qua chủ trƣơng đầu tƣ. Mục đích phân loại, phân nhóm dự án: - Mục đích của việc phân loại, phân nhóm dự án là để phân cấp quản lý; - UBND xã đƣợc quyết định đầu tƣ các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách của xã và đƣợc quyết định đầu tƣ đối với các dự án do cấp trên hỗ trợ vốn theo phân cấp của địa phƣơng, căn cứ vào năng lực thực tế quản lý của từng xã. Khái niệm về quản lý dự án.
QLDA có thể đƣợc định nghĩa nhƣ sau: QLDA là quá trình lập kế hoạch, tổ chức và quản lý, giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời gian, trong phạm vi ngân sách đã đƣợc duyệt, đảm bảo chất lƣợng, đạt đƣợc mục tiêu cụ thể của dự án và các mục đích đề ra. Ngoài ra còn có một số định nghĩa khác về QLDA nhƣ: -7- - QLDA là việc áp dụng các kiến thức, kỹ năng, công cụ và kỹ thuật vào các hoạt động của dự án nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đã đề ra. - QLDA là việc áp dụng các chức năng và hoạt động của quản lý vào suốt vòng đời của dự án để dự án đạt đƣợc những mục tiêu đề ra. Các giai đoạn của QLDA bao gồm: hoạch định dự án, điều phối thực hiện, kiểm soát.
Các giai đoạn này có mối quan hệ biện chứng với nhau. - Hoạch định dự án: là quá trình sắp xếp các công tác/công việc nhằm hoàn thành mục tiêu của dự án. Nghĩa là giải quyết các vấn đề lập thời gian biểu cho các công tác và nguồn lực (con ngƣời, thiết bị, nguyên vật liệu…) để thực hiện dự án. Hơn nữa nó cũng là cơ sở để kiểm soát và đánh giá quá trình thực hiện dự án.
- Điều phối thực hiện dự án: là quá trình phân chia nguồn lực bao gồm tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian. Giai đoạn này cần lập nên một biểu đồ chi tiết về thời gian cho từng mốc công việc và đi kèm với nó là nhân lực, thiết bị cần thiết cho việc triển khai công việc (khi nào bắt đầu công việc, khi nào kết thúc công việc và để làm đƣợc điều đó thì nó cần những nguồn lực gì).