Chương 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh sản phẩm Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm may mặc Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm may mặc Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM 1. Khái niệm và vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế 1. Khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh * Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất hàng hoá. Nhà kinh tế học người Anh, Adam Smith là người đầu tiên đưa ra lý thuyết tương đối hoàn chỉnh về cạnh tranh.
Luận thuyết của ông dựa trên ý tưởng về vai trò của “ bàn tay vô hình” qua sự điều chỉnh biến động của giá cả thị trường và được thể hiện rõ qua mô hình cạnh tranh hoàn hảo. Trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo, mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận, của người tiêu dùng là tiện ích được đáp ứng (chất lượng sản phẩm, giá cả,. Thị trường sẽ phân bổ tối ưu các nguồn lực khan hiếm vốn có theo nghĩa “không thể có cách phân bổ khác có lợi hơn cho ai đó trong xã hội mà không làm hại đến người nào khác” [17]. Tuy nhiên trong thực tế, hầu như không tồn tại tất cả những giả thuyết về nhân tố hoàn hảo.
Do đó mô hình cạnh tranh hoàn hảo là không lý tưởng. Đến những năm 20 của thế kỷ 20, các nhà kinh tế học người Anh và Mỹ đã đưa ra những nghiên cứu đầy đủ hơn về cạnh tranh - mô hình cạnh tranh mang tính độc quyền. Theo đó, xuất hiện cạnh tranh bằng sản phẩm mới, kỹ thuật mới, dẫn đến giảm giá, tăng chất lượng hàng hoá cũng như sự hợp lý trong sản xuất. Trước đây, khi nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản, C.
Mác đã đề cập tới vấn đề cạnh tranh của các nhà tư bản. Mác: “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật 7 những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu lợi nhuận siêu ngạch” [9]. Mác đã đề cập tới vấn đề cạnh tranh trong xã hội tư bản chủ nghĩa, mà đặc trưng của chế độ này là chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Do vậy, theo quan niệm này thì sự cạnh tranh có nguồn gốc từ chế độ tư hữu.
Cạnh tranh được xem xét là sự lấn át, chèn ép lẫn nhau để tồn tại. Quan niệm đó về cạnh tranh được nhìn nhận từ góc độ tiêu cực. Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh vừa là môi trường, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Do vậy, cạnh tranh có thể hiểu như sau: Cạnh tranh trong kinh doanh là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trường hàng hoá cụ thể nào đó nhằm giành giật khách hàng và thị trường, thông qua đó mà đạt được những lợi ích kinh tế nhất định.
Dưới góc độ kinh tế - xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực như: làm cho hàng hóa có chất lượng cao hơn, giá thành rẻ hơn, dịch vụ chăm sóc khách hàng tốt hơn,. tất cả đều hướng tới việc nâng cao đời sống con người. Như vậy, cạnh tranh là một xu thế tất yếu và là đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường. Trên đà phát triển và hội nhập như ngày nay, quá trình cạnh tranh cũng luôn được thúc đẩy phát triển bởi các đối tượng tham gia trên thị trường luôn tìm cách nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trước các đối thủ cạnh tranh khác nhằm đạt vị thế cao hơn trên thị trường.
* Năng lực cạnh tranh Nếu hiểu cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường thì cạnh tranh bao gồm: cạnh tranh giữa các cá nhân, các doanh nghiệp, các ngành và cạnh tranh giữa các nền kinh tế. Trong quá trình cạnh tranh, để giành lợi thế về phía mình, các chủ thể phải áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị thế của mình trên thị 8 trường hay nói một cách khác, đó là năng lực cạnh tranh của chủ thể đó trên thị trường. Trong thực tế, tồn tại rất nhiều khái niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh, được sử dụng phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng: sách báo chuyên môn, giao tiếp hàng ngày của các chuyên gia kinh tế, các chính khách, các nhà kinh doanh. Nhiều khi khái niệm về năng lực cạnh tranh vừa tỏ ra phổ biến lại vừa hết sức mơ hồ.
Những khái niệm về năng lực cạnh tranh từ các góc độ khác nhau cũng có sự khác biệt. Nguyên nhân ở đây là: Một là, do phạm vi quá lớn để có thể tiếp cận từ nhiều khía cạnh, năng lực cạnh tranh có thể là của doanh nghiệp, ngành, lĩnh vực hoặc quốc gia và bao gồm tất cả các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả thị trường như các chính sách, cơ cấu thị trường và nghiệp vụ kinh doanh về thương mại, đầu tư và các quy định. Hai là, không có sự rõ ràng khi trả lời câu hỏi ai là người cạnh tranh, các nước hay công ty. Do đó, việc nhận biết và phân loại những khái niệm năng lực cạnh tranh khác nhau là rất cần thiết khi nghiên cứu về cạnh tranh trong hội nhập quốc tế.
- Khái niệm năng lực cạnh tranh từ phạm vi quốc gia Khái niệm về năng lực cạnh tranh ở tầm quốc gia theo nghĩa rộng nhất, là sức mạnh thể hiện trong hiệu quả kinh tế vĩ mô. Có nhiều khái niệm về năng lực cạnh tranh của một quốc gia. Theo WEF, năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng đạt được và duy trì được mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế vững bền tương đối và các đặc trưng kinh tế khác [28]. Mặc dù, khái niệm về năng lực cạnh tranh dựa trên tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia khá đơn giản.
Nhưng nó chỉ nói lên được khía cạnh tiền tệ của nền kinh tế mà không bao hàm được tất cả các khía cạnh về giá trị gia 9 tăng, chẳng hạn sự tiến bộ về giáo dục, khoa học và công nghệ,. những vấn đề được coi là quan trọng đối với tiềm năng tăng trưởng của một quốc gia. Đồng thời, nó cũng không phản ánh được nguyên nhân tạo ra năng lực cạnh tranh và kết quả của cạnh tranh. Một số nhà kinh tế khác đưa ra khái niệm về năng lực cạnh tranh của một nước dựa vào năng suất lao động.
PORTER (1990), khái niệm chỉ có ý nghĩa nhất về năng lực cạnh tranh ở cấp quốc gia là năng suất lao động. Mở rộng khái niệm này thì tính cạnh tranh ở cấp quốc gia gần hơn với lí thuyết về lợi thế so sánh [18, 23]. Ngay như trong lí thuyết tuyệt đối của Ricardo, một quốc gia có khả năng cạnh tranh hơn các quốc gia khác bởi sự vượt trội về một hay một vài thuộc tính. Ông cho rằng, khả năng cạnh tranh của một nước là một hệ thống gồm nhiều yếu tố liên quan đến nhau, có tác động qua lại và bổ sung cho nhau [19].
Các yếu tố này là nền móng, chỗ dựa cho các công ty, giữ vai trò quyết định cho phép các công ty sáng tạo và duy trì lợi thế cạnh tranh trên một lĩnh vực cụ thể. Những khái niệm trên chỉ là một số khái niệm lí thuyết về năng lực cạnh tranh ở tầm quốc gia. - Khái niệm về năng lực cạnh tranh từ phạm vi của ngành, doanh nghiệp Phần chung nhất cho hầu hết các khái niệm năng lực cạnh tranh xét từ phạm vi của ngành, doanh nghiệp là sức mạnh cạnh tranh dựa trên cơ số chi phí thấp, sản phẩm tốt, công nghệ cao hoặc là tổ hợp của các yếu tố này. Một nhà sản xuất thường được gọi là nhà sản xuất cạnh tranh nếu có khả năng 10 cung ứng một sản phẩm có chất lượng cao với mức giá thấp hơn.
Đầu tiên, trong lý thuyết tổ chức công nghiệp, khái niệm năng lực cạnh tranh được áp dụng ở phạm vi xí nghiệp. Một xí nghiệp được xem là có sức mạnh cạnh tranh khi xí nghiệp đó duy trì được vị thế của mình trên thị trường cùng với các nhà sản xuất khác với các sản phẩm thay thế, hoặc đưa ra thị trường các sản phẩm tương tự với mức giá thấp hơn, hoặc cung cấp các sản phẩm tương tự với các đặc tính về chất lượng, dịch vụ ngang bằng hoặc cao hơn. Ưu thế cạnh tranh của một nhà sản xuất so với các đối thủ cạnh tranh trong một ngành công nghiệp được thể hiện trên hai mặt: ưu thế cạnh tranh bên trong (ưu thế về chi phí) và ưu thế cạnh tranh bên ngoài (ưu thế về mức độ khác biệt hóa). + Ưu thế cạnh tranh bên trong (ưu thế về chi phí) là ưu thế được thể hiện trong việc làm giảm các chi phí sản xuất, chi phí quản lý của nhà sản xuất và tạo ra sản phẩm có giá thành thấp hơn so với giá thành của các đối thủ cạnh tranh nguy hiểm nhất.
Ưu thế cạnh tranh bên trong của nhà sản xuất có được là do khả năng hạ thấp chi phí và do đó, nhà sản xuất này có hiệu quả cao hơn và có khả năng vững chắc để chống lại sự giảm giá trên thị trường do biến động của các yếu tố thị trường hoặc do cạnh tranh. + Ưu thế cạnh tranh bên ngoài (ưu thế về khác biệt hoá) là ưu thế dựa vào chất lượng khác biệt của sản phẩm mà nhà sản xuất tạo ra so với các sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh, chất lượng khác biệt của sản phẩm phụ thuộc vào năng lực marketing của nhà sản xuất. Chất lượng khác biệt của sản phẩm tạo nên giá trị cho người mua, thể hiện qua việc giảm chi phí khi sử dụng sản phẩm. Ưu thế cạnh tranh bên ngoài tạo cho nhà sản xuất “quyền lực thị trường” ngày càng tăng.Porter (1982) đã đưa khái niệm cạnh tranh mở rộng theo đó cạnh tranh trong một ngành công nghiệp phụ thuộc vào 5 lực lượng: các đối thủ tiềm năng, sản phẩm thay thế, người cung ứng, khách hàng, đối thủ cạnh tranh đa ngành.