Chương 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh: 1. Khái niệm về cạnh tranh: Cạnh tranh là một thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến hiện nay, trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, là cách thức để doanh nghiệp đứng vững và phát triển, đồng thời là yếu tố để kích thích sản xuất kinh doanh, tạo môi trường và động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội. Tùy từng cách hiểu mà có những quan điểm khác nhau về cạnh tranh. Một số nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm về cạnh tranh như sau: Theo từ điển bách khoa của Việt Nam tập 1 (1995, trang 367): “Cạnh tranh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường bị chi phối bởi quan hệ cung-cầu, nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất, phân phối với nhau hoặc có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng”.
Tác giả Nguyễn Minh Tuấn (2010, trang 13) đưa ra khái niệm: “Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế trên cơ sở sử dụng hiệu quả các nguồn nhân lực kết hợp áp dụng khoa học công nghệ trong sản xuất cũng như dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu khách hang bằng sản phẩm chất lượng và giá cả hợp lý và cạnh tranh, cũng tạo ra sự khác biệt giữa các sản phẩm cùng loại thông qua các giá trị hữu hình và vô hình mà doanh nghiệp tạo ra. Qua đó, doanh nghiệp sẽ giành lấy những vị thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa để tối đa hóa lợi nhuận”. Nhà kinh tế học người Mỹ Michael E.Porter (1980) định nghĩa: cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Qua các khái niệm khác nhau về cạnh tranh nêu trên, tác giả có thể hiểu cạnh tranh là mối quan hệ giữa người với người trong việc giải quyết lợi ích kinh tế. Bản chất kinh tế của cạnh tranh là giành lấy vị thế cao hơn nhằm gia tăng lợi nhuận và chi phối thị trường. Ngày nay cạnh tranh không phải là tiêu diệt, triệt hạ đối thủ mà cạnh tranh là doanh nghiệp phải tạo ra những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn cho khách hàng nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp mình.
Cạnh tranh được diễn ra trong môi trường pháp lý tự do và bình đẳng cho mọi doanh nghiệp. Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lược của doanh nghiệp đó với các đối thủ trong cùng một ngành. Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh giá cả, cạnh tranh về chi phí hoặc cạnh tranh về khác biệt hóa. Sự cạnh tranh cũng chia ra các cấp độ khác nhau, cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia.
Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất với nhau hoặc giữa những nhà phân phối nhằm giành được các điều kiện sản xuất và thị trường tiêu thụ có lợi nhất. Lợi thế cạnh tranh: Lợi thế cạnh tranh là những năng lực phân biệt của công ty, trong đó những năng lực phân biệt này được khách hàng xem trọng, đánh giá cao vì nó tạo ra giá trị cao cho khách hàng (Nguyễn Hữu Lam và cộng sự, 2011). Như vậy lợi thế cạnh tranh được hiểu là những năng lực phân biệt của doanh nghiệp được thị trường đánh giá cao, qua đó doanh nghiệp tạo ra được sự vượt trội so với các đối thủ cạnh tranh khác trong ngành, trong đó năng lực phân biệt là điểm mạnh của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác. Lợi thế cạnh tranh xuất phát chủ yếu từ giá trị mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho khách hàng, lợi thế đó có thể ở dưới dạng giá cả thấp hơn đối thủ cạnh tranh (trong khi lợi ích cho người mua là tương đương) hoặc cung cấp những lợi ích vượt trội so với đối thủ khiến người mua chấp nhận thanh toán một mức giá cao hơn (Michael E.
Muốn tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh, doanh nghiệp phải tạo ra được lợi thế cạnh tranh.Porter, tựu trung lại có 2 loại lợi thế cạnh tranh mà doanh nghiệp có thể sở hữu: chi phí thấp hoặc khác biệt hóa. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 LỢI THẾ CẠNH TRANH Chi phí thấp Khác biệt hóa Mục tiêu rộng 1. Chi phí tối ưu 2. Khác biệt hóa PHẠM VI CẠNH Mục tiêu hẹp 3A.
Tập trung vào 3B. Tập trung vào TRANH chi phí khác biệt hóa Hình 1. Ba chiến lược duy trì năng lực cạnh tranh của Michael E. Lợi thế cạnh tranh.
Trang 35) - Chiến lược chi phí thấp: doanh nghiệp phải tạo ra sản phẩm có giá thành thấp hơn đối thủ cạnh tranh, giúp doanh nghiệp bán được nhiều sản phẩm, mở rộng thị trường, mang lại cho doanh nghiệp hiệu quả cao hơn. - Chiến lược khác biệt hóa là chiến lược mà doanh nghiệp tạo ra sản phẩm độc đáo đối với khách hàng, khác biệt so với đối thủ nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Khác biệt hóa cho phép doanh nghiệp yêu cầu mức giá vượt trội, bán nhiều sản phẩm hơn ở mức giá cho trước, hoặc đạt những lợi ích tương đương như là người mua trung thành hơn hay tạo ra rào cản các doanh nghiệp khác gia nhập vào thị trường. Khác biệt hóa là chiến lược rất quan trọng trong cạnh tranh; nếu không có lợi thế cạnh tranh bằng giá thấp, doanh nghiệp sẽ lựa chọn chiến lược khác biệt hóa để đứng vững và phát triển trong một thị trường nhiều đối thủ.
Để tạo ra sự khác biệt, doanh nghiệp có thể dựa vào đặc tính sản phẩm của mình hoặc hệ thống phân phối, phương pháp marketing hay là các yếu tố khác. “Công cụ cơ bản để phán đoán lợi thế cạnh tranh và tìm ra phương cách để củng cố nó chính là chuỗi giá trị” (Michael E. Chuỗi giá trị được hiểu là sự nối tiếp của việc hình thành nên giá trị của sản phẩm qua các công đoạn. Sản phẩm đi qua tất cả các công đoạn của cảc chuỗi theo thứ tự và tại mỗi công đoạn sản phẩm lại nhận được thêm một số giá trị gia tăng nào đó.
Sau khi khảo các hệ thống sản xuất, thương mại và dịch vụ có tầm ảnh hưởng rất lớn ở Mỹ và các quốc gia phát triển khác, Michael Porter (1985) đã đưa ra khái niệm “Chuỗi giá trị” để phân tích quy trình tạo ra giá trị trong doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Các hoạt Cơ sở hạ tầng doanh nghiệp động Quản trị nguồn nhân lực hỗ Phát triển công nghệ trợ Lợi Thu mua nhuận Logistic Vận hành Logistic Marketing Dịch vụ đầu vào đầu ra và bán hàng Hoạt động sơ cấp Hình 1. Mô hình chuỗi giá trị của Michael Porter về lý thuyết cạnh tranh.Porter, 1985) Mô hình chuỗi giá trị chỉ ra mối quan hệ giữa các hoạt động của doanh nghiệp bao gồm các hoạt động sơ cấp và các hoạt động hỗ trợ, cho thấy cách thức tạo ra giá trị sản phẩm của một doanh nghiệp. Qua mô hình chuỗi giá trị của Michael Porter ta thấy nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh chính là những hoạt động riêng biệt và sự kết nối giữa các hoạt động này.
Đó là những hoạt động sơ cấp (Primarry activities) và hoạt động hỗ trợ (support activities) được mô tả trong hình 1. Các hoạt động sơ cấp là những hoạt động mang tính vật chất liên quan đến việc tạo ra sản phẩm, bán và chuyển cho khách hàng cũng như các công tác hỗ trợ sau bán hàng. Hoạt động sơ cấp chia thành năm loại: logictics đầu; vận hành; logictics đầu ra; Marketing và bán hàng; dịch vụ. Các hoạt động hỗ trợ là các hoạt động bổ sung cho hoạt động sơ cấp và tự chúng cũng hỗ trợ lẫn nhau thông qua việc cung ứng mua hàng đầu vào, công nghệ, nguồn nhân lực và các chức năng khác trong doanh nghiệp.
Các hoạt động hỗ trợ có thể được phân chia thành bốn nhóm: Thu mua (thu gom vật liệu đầu vào …); phát triển công nghệ (cải tiến sản phẩm, cải tiến qui trình sản xuất); quản trị nguồn nhân lực (tuyển dụng, thuê lao động, huấn luyện, phát triển nhân sự); cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp (như quản trị tổng quát, lập kế hoạch, tài chính, kế toán, pháp lý, công tác với cơ quan nhà nước, quản trị chất lượng…). Chuỗi giá trị đã được sử dụng như một công cụ phân tích hiệu quả. Mục đích của các công đoạn trong chuỗi giá trị nhằm tạo ra giá trị tối đa thông qua việc giảm thiểu chi phí. Việc thực hiện tốt từng công đoạn sẽ giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, tạo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 lợi nhuận cao, đồng thời qua đó cũng giúp cho doanh nghiệp tìm thấy một lợi thế cạnh tranh của riêng mình.
Khi doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp sẽ có cái mà các đối thủ khác không có, nghĩa là hoạt động tốt hơn đối thủ hoặc làm được những việc mà đối thủ không thể làm được. Lợi thế cạnh tranh là nhân tố cần thiết cho sự thành công và tồn tại lâu dài của doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với các đối thủ trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ, hấp dẫn người tiêu dùng để tối đa hóa lợi nhuận. Cho đến nay có khá nhiều khái niệm về năng lực cạnh tranh.
Tác giả Vũ Trọng Lâm (2006) cho rằng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp. Theo quan niệm này thì năng lực cạnh tranh được diễn giải là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ và khả năng thu lợi nhuận của các doanh nghiệp so với đối thủ.