CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về kiểm soát nội bộ trong quản lý 1. Khái niệm kiểm soát nội bộ Quản lý là một hoạt động quan trọng để tổ chức tồn tại và phát triển. Tùy theo khía cạnh tiếp cận và nghiên cứu quản lý mà các nhà khoa học đưa ra các khái niệm khác nhau về quản lý.
Theo chức năng của hoạt động quản lý, Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Quang Quynh cho rằng: Quản lý là một quá trình định hướng và tổ chức thực hiện các hướng đã định trên cơ sở các nguồn lực xác định nhằm đạt hiệu quả cao nhất [14, tr. Donnelly và các cộng sự đưa ra khái niệm nhấn mạnh đến quản lý trên khía cạnh hành vi quản lý: Quản lý là một quá trình do một hay nhiều người thực hiện, nhằm phối hợp các hoạt động của những người khác để đạt được kết quả mà một người hành động riêng rẽ không thể nào đạt được [26, tr. Theo Henry Fayol, cha đẻ của lý thuyết quản trị hiện đại: Quản lý là một quá trình bao gồm một tập hợp năm chức năng đó là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát [25, tr. Theo Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Quang Quynh: Kiểm soát không phải là một pha hay một giai đoạn của quá trình quản lý mà là một chức năng không thể tách rời của quản lý.
Trong suốt quá trình quản lý, kiểm soát luôn luôn tồn tại trước, trong và sau mỗi hoạt động định hướng hoặc tổ chức để thực hiện hoặc điều chỉnh mỗi hoạt động đó. Một cách tổng hợp nhất, kiểm soát được hiểu là tổng hợp các phương sách để nắm lấy và điều hành đối tượng hoặc khách thể quản lý [14, tr. Theo Tiến sĩ Trương Quang Dũng: Kiểm soát là quá trình xác định thành quả đạt được trên thực tế và so sánh với những tiêu chuẩn nhằm phát hiện sự sai lệch và nguyên nhân sự sai lệch, trên cơ sở đó đưa ra biện pháp điều chỉnh sự sai lệch để đảm bảo tổ chức đạt được mục tiêu [5, tr. Nhiều tranh luận đã diễn ra trong một khoảng thời gian khá dài về định nghĩa và mục tiêu của KSNB.
Những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, nhiều quan 4 điểm cho rằng KSNB là công cụ để nhà quản lý ngăn ngừa gian lận, bao gồm cả biển thủ tài sản và trình bày sai trên báo cáo tài chính. Một số quan điểm khác lại cho rằng KSNB còn có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát các chu trình nghiệp vụ phát sinh trong đơn vị, và giúp đơn vị tuân thủ luật lệ và các quy định. Các quan điểm khác nhau này được thể hiện trong các công bố của các tổ chức nghề nghiệp như Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA - American Institute of Certifled Public Accountants), Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ (IIA - Institute of Internai Auditors) [6, tr. Theo chuẩn mực kế toán số 400: Hệ thống KSNB là các qui định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các qui định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị.
Hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát [2]. Theo Luật kế toán năm 2015: KSNB là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra [13]. Hiện nay, định nghĩa được chấp nhận rộng rãi nhất là định nghĩa của tổ chức COSO (Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission), là ủy ban các tổ chức tài trợ của ủy ban Treadway được thành lập vào 1985, với mục đích thiết lập các khuôn mẫu và đưa ra các hướng dẫn về quản trị rủi ro, KSNB và giảm thiểu gian lận [6, tr. Báo cáo COSO hiện hành đã đưa ra định nghĩa về KSNB như sau: “KSNB là một quá trình bị chi phối bởi Hội đồng quản trị, người quản lý và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu về hoạt động, báo cáo và tuân thủ”.
Trong định nghĩa trên, có bốn khái niệm quan trọng cần lưu ý, đó là quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu [6, tr. Nội dung kiểm soát nội bộ KSNB là một quá trình: KSNB không phải là một sự kiện hay tình huống mà là một chuỗi các hoạt động hiện diện trong mọi bộ phận, quyện chặt vào hoạt động của đơn vị và là một nội dung cơ bản trong các hoạt động của đơn vị. KSNB sẽ hữu hiệu khi nó là một bộ phận không tách rời chứ không phải một chức năng bổ sung cho các hoạt động của đơn vị [15, tr. KSNB bị chi phối bởi con người: KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người, bao gồm Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên trong đơn vị.
KSNB là một công cụ được nhà quản lý sử dụng chứ không thay thế nhà quản lý. Nói cách khác, nó được thực hiện bởi những con người trong đơn vị, bởi suy nghĩ và hành động của họ. Chính con người sẽ vạch ra mục tiêu, đưa ra biện pháp kiểm soát để đạt được mục tiêu và vận hành các biện pháp này [15, tr. KSNB cung cấp sự đảm bảo hợp lý: KSNB chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý cho các nhà quản lý trong việc đạt được các mục tiêu của đơn vị chứ không thể mang đến sự đảm bảo tuyệt đối.
Điều này xuất phát từ những hạn chế tiềm tàng trong quá trình xây dựng và vận hành hệ thống KSNB. Chẳng hạn như những sai lầm của con người khi đưa ra các quyết định, sự thông đồng của các cá nhân, hay sự lạm quyền của nhà quản lý dẫn đến vượt khỏi hệ thống KSNB. Ngoài ra, một nguyên tắc cơ bản trong quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không thể vượt quá lợi ích được mong đợi từ quá trình kiểm soát đó. Vì vậy, dù đơn vị đã đầu tư rất nhiều cho việc thiết kế và vận hành hệ thống nhưng vẫn không thể có hệ thống KSNB hoàn hảo, mang đến sự đảm bảo tuyệt đối [15, tr.
Tổng quan về báo cáo COSO: Vào năm 1992, COSO đã ban hành báo cáo đầu tiên về kiểm soát nôi bộ. Hai mươi mốt năm sau, năm 2013, Ủy ban COSO đã cập nhật và cải tiến Báo cáo đã ban hành năm 1992, nhằm gia tăng sự dễ hiểu, rõ ràng và dễ áp dụng vào thực tế. Điều này còn là do môi trường kinh doanh đã thay đổi đáng kể, như sự toàn cầu hóa nền kinh tế, sự thay đổi trong cách thức kinh doanh, các kỳ vọng về ngăn ngừa và phát hiện gian lận ngày càng cao và đặc biệt là sự phát triển của công nghệ thông tin trên quy mô toàn cầu. Việc toàn cầu hóa kinh tế thế giới, đã đưa đến yêu cầu cao về tính minh bạch thông tin.
Mục tiêu của Báo cáo COSO 2013 là thiết lập các khuôn mẫu và đưa ra các hướng dẫn về quản trị rủi 6 ro, KSNB và biện pháp để giảm thiểu gian lận, từ đó giúp cải thiện hiệu quả hoạt động cũng như tăng cường sự giám sát của đơn vị [15, tr. Theo báo cáo COSO, hệ thống KSNB bao gồm năm bộ phận, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin truyền thông và Giám sát [15, tr. Gắn với 5 bộ phận cấu thành là 17 nguyên tắc liên quan đến cách thức tổ chức KSNB, bao gồm: - Môi trường kiểm soát • Nguyên tắc 1: Đơn vị thể hiện sự cam kết về tính trung thực và các giá trị đạo đức [15, tr. • Nguyên tắc 2: Hội đồng quản trị thể hiện sự độc lập với người quản lý và đảm nhiệm chức năng giám sát việc thiết kế và vận hành hệ thống KSNB [15, tr.
• Nguyên tắc 3: Dưới sự giám sát của Hội đồng quản trị, nhà quản lý xây dựng cơ cấu, các cấp bậc báo cáo, cũng như phân định trách nhiệm và quyền hạn phù hợp cho việc thực hiện các mục tiêu [15, tr. • Nguyên tắc 4: Đơn vị thể hiện sự cam kết về việc thu hút nhân lực thông qua tuyển dụng, phát triển và giữ chân các cá nhân có năng lực phù hợp để đạt được mục tiêu [15, tr. • Nguyên tắc 5: Đơn vị chỉ rõ trách nhiệm giải trình của từng cá nhân liên quan đến trách nhiệm kiểm soát của họ để đạt được mục tiêu của đơn vị [15, tr. - Đánh giá rủi ro • Nguyên tắc 6: Đơn vị xác định mục tiêu một cách cụ thể, tạo điều kiện cho việc nhận dạng và đánh giá rủi ro liên quan đến mục tiêu [15, tr.
• Nguyên tắc 7: Đơn vị nhận dạng các rủi ro đe dọa mục tiêu của đơn vị và phân tích rủi ro để quản trị các rủi ro này [15, tr. • Nguyên tắc 8: Đơn vị cân nhắc khả năng có gian lận khi đánh giá rủi ro đe dọa đạt được mục tiêu [15, tr. • Nguyên tắc 9: Đơn vị nhận dạng và đánh giá các thay đổi có thể ảnh hưởng đáng kể đến hệ thống KSNB [15, tr. - Hoạt động kiểm soát 7 • Nguyên tắc 10: Đơn vị lựa chọn và xây dựng các hoạt động kiểm soát để giảm thiểu rủi ro (đe dọa đến việc đạt được mục tiêu) xuống mức thấp có thể chấp nhận được [15, tr.
• Nguyên tắc 11: Đơn vị lựa chọn và xây dựng các hoạt động kiểm soát chung đối với công nghệ nhằm hỗ trợ cho việc đạt được các mục tiêu của đơn vị [15, tr. • Nguyên tắc 12: Đơn vị triển khai các hoạt động kiểm soát thông qua chính sách và thủ tục kiểm soát [15, tr. - Thông tin và truyền thông • Nguyên tắc 13: Đơn vị thu thập, tạo lập và sử dụng các thông tin thích hợp và có chất lượng nhằm hỗ trợ cho sự vận hành của KSNB [15, tr. • Nguyên tắc 14: Đơn vị truyền thông trong nội bộ các thông tin cần thiết nhằm hỗ trợ cho sự vận hành của KSNB [15, tr.